Follow us on...
Follow us on Twitter Follow us on Facebook Watch us on YouTube

Reviews hay rinh note 4, galaxy V được vi vu Hàn Quốc

Gameshow “Ai Là Triệu Phú” trên VTV đang chờ đón bạn – Tải ngay!

Lời mời tham dự chương trình từ thiện "Giáng Sinh Trong Mắt Em"

Mời anh em tham gia Vn-zoom support team

Chiêm ngưỡng BaoMoi đẹp "tuyệt diệu" trên Windows Phone tặng các bạn thành viên may mắn một chiếc Note 4
kết quả từ 1 tới 13 trên 13
  1. #1
    HOANG ANH's Avatar
    HOANG ANH vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Chiến Chấm
    Tham gia
    Aug 2007
    Cảm ơn
    9.978/1.673 bài viết

    Default Các Loại súng dùng ở chiến tranh Việt nam


    M-16A1, 5.56mm Assault Rifle

    This is the weapon most commonly associated with US troops in Vietnam. Despite early problems with the weapon it has now become a respected assault weapon. The 5.56mm M16A1 is a gas operated magazine-fed rifle capable of semi-automatic and automatic fire with an effective range of 300 meters and a practical rate of fire of 60 rpm.

    Đây là loại súng thường được sử dụng cho lính Mỹ tại VN. Mặc dù có những trục trặc nhỏ nhưng nó đã trở thành một loại được ưa sử dụng để đột kích. Khẩu M16A1 với đạn 5.56 ly được vận hành bằng hơi nén với khả năng tự động và bán tự động trong tầm bắn 300 mét và độ nhạy là 60 vòng một phút. (chuyên môn quá, dịch không sát)

    CAR-15, 5.56mm Assault Rifle

    The XM-177E2, commonly known as the Colt Commando. This is a shortened version of the M-16 with a telescoping stock. The CAR-15 was very popular with special ops troops but saw only limited use with line units.

    Khẩu XM-177E2 thường được biết với tên Colt Commando. Đây là phiên bản thu nhỏ của M-16 với khe gắn ống nhòm. CAR-15 rất thông dụng cho lính càng quét (Thủy quân lục chiến) nhưng lại chỉ được sử dụng có giới hạn trong lính phòng tuyến.

    BROWNING .50 Cal Machine Gun

    M-60, 7.62mm GPMG

    The 7.62mm M60 general purpose machine-gun (GPMG) was employed in a light role on it's bipod (effective range 500 meters) or in a medium role on a tripod (effective range 1,100 meters) as well as being used as protective armament on vehicles and helicopters. Gas operated, air cooled and belt fed, with a quick-change barrel to counter overheating during sustained firing, it has a practical rate of fire of 200 rpm (550 rpm max). In Vietnam it was the main firepower of the infantry rifle section. With bipod the M60 weighs 10.5 kg (23 pounds), which increases by 6.8kg (15 pounds) if a tripod is added (Total 38 pounds minus ammo).

    Khẩu 7 ly 62 M60 là loại súng máy tầm gần được vận hành trên giá hai chân của nó, và có tầm hoạt động 500 mét hoặc với tầm xa là 1100 mét trên đế ba chân. Dùng để phòng thủ trên các xe cơ giới và trực thăng. Bắn bằng hơi và thoát nhiệt bằng không khí. Có chế độ thay băng đạn nhanh trong khi bắn. Độ nhậy 200 vòng một phút (tối đa đạt 500 vòng). Tại Việt Nam, nó là hỏa lực chính của bộ binh. Cộng với đế 2 chân, M60 nặng 10.5 Kg, và thêm 6.8 kg nếu có thêm đế 3 chân. Tổng cộng là 38 lbs không kể đạn.

    BROWNING .30 Cal Machine Gun

    M-72, 66mm Light Anti-tank Weapon (LAW)

    Weighing 2.37-kg (5.2 pounds) complete, the LAW was designed as a discardable one-man rocket launcher primarily for use as an anti-tank weapon. In Vietnam however, the LAW was used almost exclusively as a bunker buster or for attacking entrenched enemies. When carried, the smooth-bore launcher tube was carried closed, and was watertight. In action, the end covers were opened by removing safety pins and the inner tube was telescoped outwards. This cocked the firing mechanism. Held over the shoulder, aimed by the simple sights, the weapon was fired by pressing the trigger button. The LAW Fired a 1-kg rocket to a maximum effective range of 300m. The rocket motor was fully burnt out by the time it left the launcher and resulted in a large back-blast danger area behind the firer. Once fired the tube was discarded. Due to it's low weight, a number of complete assemblies could be carried in a squad with each person capable of packing at least two if necessary.

    Nặng 2.37 kg, khẩu LAW được thiết kế có thể phóng rocket (lựu) để có thể chống xe tăng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, LAW được dùng riêng cho việc phá boongke hoặc tấn công hào địch. Khi di chuyển, vị trí phóng lựu được giữ sát thân và được làm kín không cho vô nước. Trong chiến dịch, phần bảo vệ được mở ra cẩn thận và trở thành ống ngắm. Được giữ trên vai, ngắm mục tiêu tiêu đơn giản và bấm nút cò để bắn. Rocket của LAW nặng 1 kg và phá hủy diện rộng 300 mét. Động cơ phóng lựu sẽ cháy hoàn toàn mỗi khi phóng lựu gây nên sự nguy hiểm phía sau đuôi của LAW. Mỗi lần phóng lựu là mỗi lần phải thay ống phóng lựu mới. Để giảm trọng, mỗi người trong tiểu đoàn có thể đem theo 2 ống lựu khi cần thiết

    M-20, 3.5 inch Rocket Launche

    Often referred to as the 'Super Bazooka', the M20 was developed from the earlier 2.36-inch M9A1 rocket launcher. Although used in Vietnam, the M-20 was on it's way out of service. It was however a very useful weapon when used against enemy fortifications. The M20 weighed 5.5-kg and was a simple rocket launcher, firing a hollow-charge 4-kg HEAT rocket to relatively short ranges of 1200-meters. It was operated by a two-man team and had a rate of fire of six shots per minute. When carried, the long tube was folded into two for easier handling. In action a rocket was loaded into the open breech and two wires were attached to electrical terminals. When the trigger was pulled, a small electrical current ignited the rocket motor and propelled the rocket forward, leaving a large and dangerous back-blast area to the rear of the launcher.

    Thường được ám chỉ là Siêu Ba Zô Ka, M20 được phát triển từ phiên bản sớm của súng phóng lựu M9A1. Mặc dù được dùng tại Việt Nam, M20 đã không còn sản xuất nữa. Nó là một vũ khí hữu dụng khi dùng để phá hủy công sự của địch. M20 nặng 5.5 Kg và chỉ là súng phóng lựu. Có thể nạp 4 kg Heat rocket để phá hủy tầm ngắn trong phạm vi 1200 mét. Được vận hành bởi 2 binh lính và đạt 6 lần bắn trong một phút. Khi vận chuyển, nòng dài được gấp đôi lại để dễ dàng cầm. Khi vận hành, rocket được nạp vô khóa nòng đã mở và hai dây điện để đánh lửa. Khi cò được bóp, dòng điện sẽ kích hoạt mô tơ và phóng lựu đi, để lại áp lực nguy hiểm ở phía sau nòng súng.

    M-203, 40mm Grenade Launcher

    The combination M16A1 automatic rifle and M203 (a version of the M79) grenade launcher was produced to avoid the problem of a Grenadier having to carry a grenade launcher as well as a weapon for personal protection and hence allowing him to also function as a rifleman. The 40mm grenade launcher was used to provide additional fire support for the infantry by delivering high explosive, parachute flares and canister rounds. The high explosive had a maximum range of 400 meters and a casualty radius of 5 meters.

    Là sự kết hợp giữa súng trường tự động M16A1 và súng phóng lựu M203 (phiên bản của M79), nhằm cải thiện những lỗi của Grenadier khi di chuyển và phát triển thành vũ khí cá nhân. Binh lính có thể tự bảo vệ và hành động trong chiến dịch tự do hơn. Lựu đạn 40 mm được dùng để tăng hỏa lực cho bộ binh và cộng thêm pháo sáng cùng hộp tiếp đạn. Tầm nổ của lựu đạt đến 400 mét và tầm tử thương có bán kính 5 mét

    M-79, 40mm Grenade Launcher

    Commonly known as the 'Thumper' or 'Blooper', this weapon first appeared during the Vietnam war and closely resembled a large bore, single barrel, sawn-off shotgun. The first M79 Grenade launchers were delivered to the US Army in 1961.

    Thường được gọi là Thumper/ Blooper. Xuất hiện trong suốt cuộc chiến tại Việt Nam và trông tương tự như nòng lơn, và nòng đơn, và súng cưa nòng của M79 đầu tiên được phục vụ quân đội Mỹ năm 1961.

    The M79 was designed as a close support weapon for the infantry, with two weapons being issued to each rifle squad. The tactical use of the weapon required the gunner (grenadier) to be dedicated to the weapon and only carried a pistol as a side arm. the M79 was intended to bridge the gap between the maximum throwing distance of a hand grenade, and the lowest range of supporting mortar fire - between 50 and 300 meters - and thus gave the squad an integral indirect fire weapon. With a length of 737mm (barrel = 355mm) and a loaded weight of 3kg, (6 and a half pounds) the M79 was an ideal weapon in the close terrain of Vietnam.

    M79 được thiết kế cho bộ binh, một trong hai vũ khí cá nhân trong bộ binh.Chiến binh được yêu cầu có một vũ khí chuyên dụng và một khẩu súng lục mang theo bên mình. M79 được coi là cầu nối giữa súng phóng lựu tầm xa và súng cối tầm gần (50 đến 300 mét) và do đó trở thành vũ khí không thể thiếu trong một đội binh. Với chiều dài 737 mm (nòng dài 355 mm) cộng với đạn nặng 3kg, M79 là một vũ khí chiến lược đối với địa hình của Việt Nam.

    The M79 was a single shot, shoulder fired, break-barrel weapon which fired a spherical 40mm diameter grenade loaded directly into the breech. It had a rubber pad fitted to the shoulder stock to absorb some of the shock. The M-406 40mm HE grenades fired from the M79 traveled at a muzzle velocity of 75 meters per second, and contained enough explosive within a steel casing that upon impact with the target would produce over 300 fragments at 1,524 meters per second within a lethal radius of up to 5 meters. Stabilized in flight by the spin imparted on it by the rifled barrel the grenade rotated at 3,700rpm, this in turn, after approximately 15 meters of flight, armed the grenade.

    M79 bắn từng phát một, vũ khí nòng rời với cầu lửa đường kính 40 mm được nạp trực tiếp vào khóa nòng. Có một miếng lót cao su để tì súng lên vai và giảm shock. Lựu đạn M406 40 ly HE rời khỏi nòng của M79 đi với vận tốc 75 mét một giây, và chứa lượng chất nổ trong vỏ bọc thép, khi nổ có thể văng ra hơn 300 mãnh vụn với vận tốc 1524 mét một giây, với bán kính sát thương là 5 mét. Đạn đạo bay ổn định vì lựu đạn xoay trong không trung với vận tốc 3700 vòng một phút do vòng xoáy trong nòng tạo ra.

    For close range fighting the Army came up with two types of M79 rounds. The first was a flechette round ( or Bee Hives round) which housed approx 45 small darts in a plastic casing, these rounds were issued on an experimental basis. Later this round was replaced by the M-576 buckshot round. This round contained twenty-seven 00 buckshot which on firing was carried down the barrel in a 40mm plastic sabot which slowed down in flight so that the pellets could travel in their forward direction un-aided. The M79 could also fire smoke grenades (both standard and parachute), CS gas, and flares.

    Chiến đấu tầm gần, có 2 loại M79. Loại đầu tiên là đạn hình mũi tên, được giữ 45 viên nhỏ trong hợp plastic, loại này được thực đưa ra trên thực tế thí nghiệm. Sau đó, loại đạn này được thay thế bằng đạn chì của M576 . Loại đạn này bao gồm 27 00 đạn chì nhỏ được đúc và đem theo trong hộp nhựa 40 mm, nó bay chậm hơn trong đạn đạo nhưng dễ tới đích theo mong muốn. M79 cũng là súng bắn lựu đạn khói (loại tiêu chuẩn và loại rơi chậm có dù), bắn khí CS và bắn lửa.

    The M79 had a large flip up sight situated half way down the barrel, with a basic leaf foresight fixed at the end of the barrel. The rear sight was calibrated up to 375 meters (410 yds) in 25 meter (27.3 yds) intervals. In the hands of a good experienced Grenadier the M79 was highly accurate up to 200 meters. Later in the war the M79 was superseded by the M203.

    M79 có một lá ở đầu ruồi, cho biết tầm nhìn phía sau xa đến 375 mét trong khoảng cách 25 mét. M79 là vũ khí phóng lựu cầm chính xác trong phạm vi 200 mét. Sau này, M79 được thay thế bằng M203

    M-67, 90mm Recoilless Rifle

    Measuring 1,346-mm (53-inches) in length and weighing in at a hefty 16-kg (35-lbs), the M-67 was intended for use against AFV's and bunkers as a portable crew served weapon. It was a breech-loaded, single-shot weapon which was shaped like a long tube with the sight assembly and firing mechanism offset to the side in opposite directions about half way along the barrel. The breech was hinged on the right side, and had to be swung open to load the round. It was then swung closed and when the rifle was fired, the rear end of the shell case broke up and was blown out of the back of the breech block.

    Chiều dài 1346 mm, và nặng 16 kg. M67 dùng để phá hủy AFV (???) và boongke như một thứ vũ khí di động linh hoạt trong quân đội. Đạn nạp trong khóa nòng, và bắn phát đơn. Có hình dạng ống dài với có thể tháo ráp, và phần đuôi dài khoảng nửa thân của nòng. Khóa nòng có bản lề ở bên phải và được gập lại để nạp đạn. Khi bắn, phần vỏ ở đuôi sẽ bị đẩy ra ngoài khoá nòng.

    Capable of maintaining a sustained fire rate of 1 round per minute, the weapon could be fired at an increased rate of 1 round every 6 seconds (10 rpm) by a well trained crew. However, due to excessive heating at this rate of fire, it was necessary to allow the weapon a 15-minute cooling period after each 5 rounds fired.

    Có khả năng duy trì liên tục tốc độ bắn mỗi phát một phút. Súng có thể được tăng tốc độ lên 1 phát mỗi sáu giây khi được sử dụng thuần thục. Tuy nhiên, do sức nóng quá cao nên phải làm nguội 15 phút sau mỗi 5 phát bắn.

    The maximum range of the M-67 was 400-meters (437-yds) and was sighted to 800-meters (875-yds) although the shell could actually be fired out to 2,000-meters (2,187-yds).
    Tầm phá hủy tối đa của M67 là 400 mét, và tầm ngắm rộng 800 mét mặc dù lượng khói xa 2000 mét

    Requiring a crew of three (gunner, assistant gunner and ammo bearer) the M-67 fired a 9.5-lb M371E1 HEAT round and could be shoulder fired or ground mounted.
    Yêu cầu một tổ có 3 người, một người bắn, một trợ giúp và một khuân vác đạn. M67 sử dụng loại lựu đạn 9.5 pounds và có thể sử dụng vác qua vai hoặc để trên mặt đất.

    M-1911A1, .45 Automatic Pistol

    M-14, 7.62mm Rifle

    Until the introduction of the M-16, the M-14 was the standard rifle of the US forces and saw service in Vietnam from 1957 onwards until its replacement. The M14 national Match (Accursed) was the sniper rifle variant, later renamed the M-21.
    Cho đến khi có sự ra đời của M16, M14 được coi là tiêu chuẩn cho quân đội Mỹ và được nhìn thấy phục vụ trong chiến tranh từ năm 1957 cho đến khi nó được thay thế. M14 dùng cho bắn tỉa và đổi tên thành M21

    Production of the M14 ceased in 1964 but a further variant was the M14A1 which came close to being a light machine-gun. The M14A1 had a pistol grip, a folding fore-hand grip about half-way down the forestock, a folding bipod, a shoulder strap, and a sleeve was fitted over the muzzle to act as a compensator when firing fully automatic. This helped to keep the barrel down and prevent climb.
    M14 dừng sản xuất năm 1964 nhưng có sử biến đổi thành M14A1, một loại súng máy loại nhẹ. M14A1 có báng, báng gấp và có chân đế gấp được, dây đeo, và khóa để cài chế độ tự động. Cải tiến đó giúp cho nòng súng giữ hướng xuống và không bị tuột.

    The M-14 was adopted in 1957 as the successor to the WWII M-1 Garand, and was basically an evolution of that rifle.
    M14 xuất hiện năm 1957 là người thừa kế của WWII M1 Garand và là nền tảng để phát triển các loại súng trường.

    The main and more obvious improvements were the gas system and magazines. On the M-1 the magazine was fixed and had to be loaded using a charger. On the M-14, detachable 20-round box magazines were used. The normal M-14 fired semi-automatic only. A slide-on bipod could be provided, and the rifle fitted the M-76 grenade launcher which was slipped on to the flash suppressor and secured to the bayonet lug.
    Sự chính yếu và đáng quan tâm trong sự cải tiến là hệ thống nén khí và ổ đạn. Ổ đạn của M1 phải được nạp đạn mỗi phát bắn, trong khi đó M14, có hộp tiếp đạn 20 viên. M14 loại thường chỉ bắn ở chế độ bán tự động, có thể được cài trên chân đế kèm theo. Súng có thể gắn thêm súng phóng lựu M76 hoặc bộ giảm thanh hoặc lưỡi lê

    The M-14 weighed 5.1-kg (11.22 pounds) with a full magazine and cleaning kit carried. It had a maximum effective range on semi-automatic without the M-2 bipod of 460-meters. When the bipod was added this range increased to 700-meters.
    M14 nặng 5.1 kg khi đầy đạn và dụng cụ lau chùi. Bắn không chân đế ở chế độ bán tự động, tầm bắn là 460 mét, và có chân đế là 700 mét.

    A special suppressor was fitted to the muzzle of the sniper rifle which did not affect the performance of the bullet, but reduced the velocity of the emerging gases to below that of sound. This made location very difficult as the target heard only the crack of the bullet and no shot from the rifle.
    Bộ giảm thanh của những tay bắn tỉa không ảnh hưởng đến đạn đạo nhưng giảm tốc độ của đạn. Âm thanh được giảm đán kể khi bắn có bộ phận giảm thanh.

    M-1 Carbine

    Cal .38 Special

    QUÂN **********

    AK-47 7.62mm ASSAULT RIFLE

    Easily recognized with its high front sights, large selector/safety switch on the right side and the long, curved banana magazine, this is the Soviet version with a conventional wooden buttstock. The AK-47 is a gas-operated, magazine-fed rifle which has a semiautomatic ROF of 40 rounds (effective range about 400 meters), increasing to 100 rounds on fully automatic (effective range about 300 meters). It has a 30 round detachable box magazine. Renowned for it's durability, the AK-47 is shorter and heavier than the M-16 but with a lower ROF and muzzle velocity.
    Dễ dàng nhận ra vẻ bề ngoài với đầu ngắm cao, bộ khóa an toàn và chọn chế độ bắn bên phải nòng, băng đạn dài và cong hình quả chuối. AK47 của Xô Viết (Soviet - Liên Xô cũ) có báng gỗ. AK47 hoạt động bằng hơi, nạp đạn tự động và có chế độ bắn bán tự động, ROF là 40 vòng (tầm bắn ở cự ly 300 m), có thể đạt tối đa 100 vong ở chế độ tự động hoàn toàn. Nổi tiếng bởi độ bền của nó, AK 47 ngắn hơn và nặng hơn M16 nhưng có số ROF thấp hơn và tốc lực nòng thấp hơn.

    A 7.62mm semi-automatic carbine with an effective range of 400 meters, the SKS has a 10 round integral magazine and an ROF of 30-35 rounds per minute. The SKS resembles a conventional bolt action rifle but is equipped with an integral folding bayonet under the muzzle. Used extensively by the VC, it weighed 3.86kg, had a length of 1020mm and a muzzle velocity of 735m per second.
    Cạc-bin (carbine) 7 ly 62 bán tự động với tầm bắn 400 m, SKS có tổng cộng 10 viên, và ROF là 30-35 viên trong một phút. SKS được coi là súng chiến đấu thông dụng và được trang bị thêm lưỡi lê ở đầu họng súng. Được sử dụng rộng rãi trong quân đội Việt Nam. Nặng 3.86 kg, và dài 1020 mm. Tốc lực nòng là 735 m một giây.

    RPD-7.62mm GPMG

    The standard infantry squad support weapon, the RPD was analogous to the US M-60 and fired a 7.62mm slug from a 100 round belt which was usually contained in a drum mounted below the gun. The drum itself could be changed in a matter of seconds by an experienced gunner and protected the ammo from dirt and hence jamming. With a maximum rate of cyclic fire of about 150 rounds per minute, an effective range of 800m and rapid reload time, this light and uncomplicated weapon was capable of laying down sustained heavy fire. The gunner was usually accompanied by an assistant acting as an ammo carrier, loader and capable of taking over as the primary gunner in the event of the main gunner becoming a casualty. The RPD was approximately 1036mm in length (521mm barrel ) and had a muzzle velocity of 700m per second.
    Vũ khí tiêu chuẩn cho bộ binh, RPD tương tự như M60 của Mỹ và dùng đạn 7ly62 được chứa trong băng 100 viên, và băng đạn được chứa trong hộp tròn nhỏ treo dưới súng. Hộp đạn được thay nhanh chóng bởi tay súng có kỹ thuật tốt, hộp đạn còn có mục đích bảo vệ đạn khỏi bụi bẩn do đó tránh kẹt đạn. Với tỉ lệ quay khoảng 1500 vòng một phút, tầm bắn 800 m, thời gian nạp đạn nhanh, nhẹ và không phức tạp nên nó có thể sử dụng trong các trận đánh lớn. Người bắn RPD có sự hỗ trợ của một đồng đội để khuân vác, nạp thêm đạn. RPD dài xấp xỉ 1036 mm (nòng dài 521 mm) và tốc lực nòng là 700 mét một giây.

    MAT49 modified 7.62mm SMG

    PPSh41 7.62mm SMG

    Designed by the Soviets in 1940 and adopted for issue in 1941, the PPSh41 met the Red Army's need for an easily mass-produced, rugged weapon. It became very popular with German soldiers fighting on the Eastern Front and was converted by German armorers to fire 9-mm Parabellum rounds.
    Liên Xô thiết kế năm 1940 và đưa vào sử dụng năm 1941. PPSh41 được Hồng Quân sản xuất rộng rãi. Nó trở nên phổ biến cho quân Đức trong cuộc chiến Đông Âu và được chuyển sang dùng loại đạn 9 ly của Đức.

    The weapon had a fire-rate selector lever positioned just in front of the trigger, allowing the rate of fire to be changed rapidly without the weapon moving off the the point of aim.
    Súng có khóa để chỉnh tốc độ bắn ở phía trước cò súng. cho phép chỉnh nhanh chóng mà không cần phải buông súng ra

    The two-piece bolt handle allows the bolt to be locked in either the forward or the rear position.
    Báng súng là hai thanh thép, có thể khóa lại hướng về phía trước hoặc phía sau.

    The original weapon had two different magazines; a 71-round drum or a 35-round box. Most of the weapons used in Vietnam used the box magazine but this may have been a result of the Chinese connection since the PRC Type 50 differed only slightly from the PPSh41, mainly in that it only fitted the 35-round box magazine.
    Nguyên thủy có hai loại đạn để sử dụng: hộp đạn 71 viên và 35 viên. Hầu hết quân Việt Nam dùng loại nhỏ, có thể do liên minh với Trung Quốc, họ dùng loại PRC đời 50, chỉ khác biệt nhỏ với PPSh41 và xài loại hộp nhỏ 35 viên.

    The most interesting variant of the weapon was the K50M, which was the Vietnamese modification of the PRC Type 50. The Vietnamese removed the wooden butt stock and replaced it with a wooden pistol grip and a French-style sliding wire butt stock similar to that on the MAT49. At the front end of the weapon they shortened the perforated barrel jacket, left off the muzzle brake, and attached the foresight to the barrel, giving the gun a shape strongly reminiscent of the MAT49. The K50M was about 500-g (1.1-lbs) lighter than the PPSh41 at 3.4-kg (7.5-lbs) as opposed to 3.9-kg (8.6-lbs).
    Sự thay đổi hay nhất là K50M, do quân Việt Nam cải tiến từ PRC loại 50. Quân Việt Nam bỏ đi báng gỗ và thay bằng báng gỗ trượt kiểu của Pháp tương tự với MAT49. Làm cho súng ngắn hơn, cộng thêm khoan nòng để giảm nhiệt, bỏ đi bộ đầu ruồi giúp súng ngắn hơn và trông giống MAT49 hơn. K50M nặng khoảng 500 g, nhẹ hơn PPSh41 3.4 kg so với trọng lượng 3.9 kg của nó

    The weapons were all blowback operated and had an effective range of about 150-m (164-yards).
    Tất cả tự nạp đạn và có tầm ảnh hưởng khoảng 150 m

    Chicom Type-56, 7.62mm ASSAULT RIFLE

    The Chinese copy of the original Soviet AK-47, the Type-56 has a folding metal stock.
    Trung Quốc lấy từ nguyên mẫu của AK47 và loại 56 có thể gập lại được

    Type-24, 7.92mm HEAVY MACHINEGUN

    A Chinese copy of the German WWI vintage Maxim machine gun often used in an air defense role.
    Trung Quốc chế biến theo súng WWI của Đức, được coi là súng máy thường được sử dụng trong phòng không.


    The RPG-7 (CHICOM Type-69) is a muzzle loaded, shoulder fired antitank grenade launcher. The VC and NVA used the RPG7V, a Soviet produced short-range, anti-Armour, rocket-propelled grenade, from 1967 against armored vehicles, defensive positions, personnel and even helicopters. This smoothbore, recoilless weapon consists of a launcher tube fitted with a simple iron sight or a more sophisticated telescopic range-finding sight, and a HEAT rocket grenade projectile with a caliber of 40mm. The RPG-7 has an effective range of 300 meters against moving targets and up to 500 meters against stationary targets. The projectile explodes either on impact or at its maximum range of 920 meters.
    RPG7 nạp đạn ở họng súng. Gác trên vai bắn lựu đạn chống tăng. NVA sử dụng. Liên Xô sản xuất, tầm ngắn, chống pháo và lựu đạn. Từ năm 1967 được sử dụng để chống các xe vận chuyển đạn dược, phòng thủ vị trí, cá nhân cũng như chống trực thăng. nó đơn giản là một ống phóng lựu trơn tru, trong khó xoáy trong nòng. Có dĩa ngắm mục tiêu và có thể xác định được lựu đạn có đường kính 40 mm. RPG7 có tầm hoạt động 300 met để hủy mục tiêu di động và 500 mét đối với mục tiêu cố định. Lựu đạn được bắn ra khi nổ có thể ảnh hưởng xa nhất là 920 mét


    First introduced in the 1930’s and utilizing the self-cocking design from Colt, the Tokarev TT33 was used extensively by Soviet forces in WWII and was produced in nearly all Warsaw Pact countries and the PRC.

    The Chinese Type-54 could be distinguished from the Soviet TT33 by the serrations on the slide and by the Chinese ideograms on the pistol grip (the Soviet weapon had a star in the center of the pistol grip). The Soviet TT33 had alternate narrow and wide vertical cuts, whereas the Type-51 and Type-54 had uniform narrow markings, to aid gripping the slide when manually cocking the weapon.

    There was no safety mechanism but the hammer could be locked at half-**** and the weapon was normally carried around with a round in the chamber.

    Production of the weapon in the USSR stopped in 1954, but continued in other Communist countries, notably the PRC. The pistol was widely used by VC and NVA officers.

    The Tokarev TT33 fired the Soviet 7.62-mm x 25 Type-P pistol cartridge. It operated on a recoil single action and was semi-automatic, feeding ammunition from an 8-round box magazine. Maximum ROF was 32-rpm and with a maximum effective range out to about 50-meters.

    The pistol was quite heavy, weighing about 1-kg (2.2-lbs) when loaded and was 196-mm (7.72-inches) in length.


    The Pistol Makarov (PM) replaced the Tokarev in the early 1950’s in the Warsaw Pact countries and was produced in the PRC as the Type-59. originally copied from the West German Walther PP (police pistol) of the 1930’s the Makarov was chambered for the 9-mm round rather than the 7.65-mm cartridge of the original pistol and used Soviet 9-mm x 18 ammunition rather than the original NATO 9-mm x 19.

    Following it's introduction the Makarov became the standard pistol in most Euro-Asian Communist forces.

    The pistol was operated by a blowback, self-loading double action, and loaded from an 8-round box magazine. It measured 160-mm (6.3-inches) in length and weighed 800-grammes (1.8-lbs) when loaded.

    The pistol grip was slightly bulky, making firing it a little uncomfortable. Soviet manufactured weapons had a star in the center of the pistol grip. There was a simple safety catch at the rear of the slide, and a slide stop on the outside of the receiver, both of which could be operated by the firer’s thumb if right handed.

    81 mm Mortar

    75 mm Recoilless Rifle

    Thay đổi nội dung bởi HOANG ANH; 02-04-2008 lúc 21:08.

  2. Có 26 thành viên cảm ơn HOANG ANH cho bài viết này:
    20m85102 (18-02-2012), 3111999 (24-05-2012), 982486 (13-03-2010), alycuong (03-07-2011), chicharito_1991 (02-03-2012), chicotathoi_ct (24-01-2011), chiensivodanh (18-06-2009), cup5000 (14-10-2009), D-Expert (31-08-2011), digitalboy (04-04-2008), dung89sr (15-03-2010), hoadaiduong (04-12-2011), hoatuy (31-08-2011), homicidenam (26-09-2009), longvp (24-01-2011), miucodonbk (03-10-2008), Ngao.Restalimz (19-05-2012), ngochung2709 (13-06-2008), nhimcon_86bn (03-01-2009), ntt300485 (15-04-2008), nvthaovn (27-07-2009), thieuniengiakhanh (15-04-2011), tuanduc82 (14-01-2009), vodanh_honguyen (02-04-2009), vuquochoang (23-01-2011), zombiez811 (15-04-2008)

  3. #2
    ia8dxun9pm12's Avatar
    ia8dxun9pm12 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Gà Con
    Tham gia
    Jan 2009
    Cảm ơn
    0/0 bài viết


    Có hình màu ko bạn

  4. #3
    neoline0909's Avatar
    neoline0909 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ
    Tham gia
    Jun 2009
    Cảm ơn
    2/2 bài viết


    hay đấy, mấy cái này giúp tụi mình bik về súng ( hihi mình từng đi bắn đạn thật 1 lần bằng M -16 kìa). Bắn có 3 phát mòa 26 đ (1 phát 10đ - bia 100m truờng bắn Q9)

  5. #4
    dxnhut00's Avatar
    dxnhut00 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá Đôi
    Tham gia
    Sep 2008
    Cảm ơn
    23/13 bài viết


    Tớ bắn AK47 ở trường bắn Mỏ cày! Cũng được 29đ.
    Tiếc hụt hơi.
    Bắn đạn thật hơi bị thích nhất là cái mùi thuốc súg cháy rồi nó ghiền ghiền sao ấy!
    Tiéc là không vào được quân đội hic!

  6. #5
    982486's Avatar
    982486 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Sắt
    Tham gia
    Jun 2008
    Đến từ
    Đại học Kinh Tế TP.HCM
    Cảm ơn
    40/23 bài viết


    mấy ông vào đố bắn rùi ra làm thợ săn hay thích khách hả tui là công an nè rớ vô ông thì biết

  7. Có 1 thành viên cảm ơn 982486 cho bài viết này:
    321votinh (31-08-2011)

  8. #6
    Mindergo's Avatar
    Mindergo vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Gà Con
    Tham gia
    Feb 2008
    Cảm ơn
    0/0 bài viết


    to ban tat ca cac loai sung tu co den toi tan nhat. he he nhung toan la ban trong game dot kick thui!!!!!!!!!!!

  9. #7
    vaonghe's Avatar
    vaonghe vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Chiến
    Tham gia
    Oct 2008
    Đến từ
    Thái Bình_Hà Nội
    Cảm ơn
    3.653/536 bài viết


    Sao không thấy B40, B41 nhỉ

  10. #8
    tomdaukho00's Avatar
    tomdaukho00 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Gà Con
    Tham gia
    Dec 2010
    Cảm ơn
    0/0 bài viết


    minh di ban thu sung spg9 + rpk7 va hien tai la sung m79 che' lai ne`

  11. #9
    maybaymig35's Avatar
    maybaymig35 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ
    Tham gia
    Jan 2011
    Cảm ơn
    Điểm: 1/1 bài viết


    Còn thiếu khẩu này

  12. #10
    Dth012's Avatar
    Dth012 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Gà Con
    Tham gia
    Jun 2009
    Cảm ơn
    Điểm: 1/1 bài viết


    Ak thì tui bắn chắc 2 băng đạn rồi..(tui là bộ đội mà).súng ngắn k54,súng trường CKC,trung liên RPD,RPK,cối 60mm,cối 82mm, 12ly7. diệt tăng b40,b41,AK,AKM,AKMS. chỉ có mỗi m79 là chưa đc bắn bởi nó nguy hiểm và sát thương rất cao. còn nói về lựu đân thì tui ném chắc 15 trái rồi ^^

  13. Có 1 thành viên cảm ơn Dth012 cho bài viết này:
    321votinh (31-08-2011)

  14. #11
    Tham gia
    Jun 2009
    Cảm ơn
    0/0 bài viết


    Các bác thì đi đánh nhau thật rồi còn tôi không đi đánh nhau bao giờ, nhưng quan sát việc đánh nhau ở rất nhiều góc độ. Xét cho cùng thì mấy ông muốn giành quyền lực về kinh tế- ********* thì xúi cho mọi người đánh nhau. Trong đó ông thì sản xuất vũ khí, quân nhu, quân dụng, ông thì buôn bán kiếm tiền, ông thì làm báo, ông thì đánh nhau... Rút cuộc mỗi ông đều được hoạc bị lôi cuốn vào việc được một cái gì gì đấy, chỉ có dân thường là chẳng được gi mà chỉ có mất đủ mọi thứ. Đến cuối cùng sau một hồi đánh nhau thì đâu lại vào đấy và sau một hồi có khi lại bị xúi đi đánh nhau thêm nữa, rôi đâu lại vào đấy. Cuối cùng mỗi anh đều được một cái gì đấy, rồi chỉ có dân thường là mất đủ thứ mà chẳng được cái gì, vì cuối cùng đâu thì sẽ lại hoàn đấy... Xét cho cùng các bác dễ bị xúi bậy quá !

  15. #12
    D-Expert's Avatar
    D-Expert vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Chiến Bạc
    Tham gia
    Sep 2010
    Cảm ơn
    5.200/1.066 bài viết


    ghê nhỉ ... dùng ở chiến tranh VN sao ...!?
    comin' back 1 day :]
    expect me

  16. #13
    freerunning's Avatar
    freerunning vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ
    Tham gia
    Dec 2011
    Cảm ơn
    Điểm: 1/1 bài viết


    ho ho hình của bạn là phi cơ của VNCH mà dù sao vẫn hay lắm



Quyền sử dụng

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể tự sửa bài viết của mình