Follow us on...
Follow us on Twitter Follow us on Facebook Watch us on YouTube

Giúp các bé đáng thương ấy với

Gameshow “Ai Là Triệu Phú” trên VTV đang chờ đón bạn – Tải ngay!

Bán đấu giá ủng hộ từ thiện

Ngập tràn ưu đãi cho tín đồ công nghệ tại sony show 2014

Chiêm ngưỡng BaoMoi đẹp "tuyệt diệu" trên Windows Phone

Tin tức công nghệ mới
Trang 1/2 1 2 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 15 trên 16
  1. #1
    ngocphu079st's Avatar
    ngocphu079st vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jun 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    0
    Điểm
    8/6 bài viết

    Cool Thuyết minh về tình cảnh lẻ loi của ngưới chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm)

    Ai có bài viết nào hay thì post lên dùm mình nhé thứ 2 là mình phải nộp rồi các bạn giúp mình nhé

  2. #2
    ÁcMa's Avatar
    ÁcMa vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Cống hiến cho [V-Z]
    Tham gia
    Jul 2008
    Đến từ
    Hải Phòng
    Bài
    5.343
    Cảm ơn
    799
    Điểm
    4.736/2.077 bài viết

    Default

    Chinh Phụ Ngâm

    Ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVIII với nguyên tác bằng Hán văn của Đặng Trần Côn, liền sau đó được Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn nôm (dịch thành quốc ngữ)(1) Chinh Phụ Ngâm đã mau ng đi vào lòng mọi tầng lớp quần chúng.

    Trải qua hơn hai thế kỉ rưỡi cho đến nay, Chinh Phụ Ngâm luôn giữ nguyên giá trị của một viên ngọc văn chương sáng ngời, một sản phẩm đáng tự hào của xứ sở vốn "nổi tiếng thi thư"(2)

    Nguyên tác Chinh Phụ Ngâm bằng Hán văn của Đặng Trần Côn là một tác phẩm văn chương đặc sắc. Không những giới nho sĩ Việt Nam mà cả các bậc văn nhân Trung Hoa, đều yêu thích và khâm phục tác phẩm này. Bằng văn tài xuất sắc, Đặng Trần Côn sử dụng thể thơ tự do như "cổ phong" trong "Nhạc phủ" hoặc thể"từ" mà Khuất Nguyên và Lí Bạch từng sử dụng, để viết nên một tác phẩm trữ tình hiếm có, mô tả tâm sự sâu xa của một thiếu phụ vắng chồng.

    Văn chương trong Chinh Phụ Ngâm vô cùng diễm lệ, chứa chan tình cảm, uyển chuyển và đầy nhạc điệu. Trong số thi phẩm Hán văn của nền văn học nước ta, hiếm có tác phẩm sánh ngang được với Chinh Phụ Ngâm .

    Với Chinh Phụ Ngâm bằng quốc ngữ, xưa nay nhiều bậc thức giả uyên bác đã phân tích và đánh giá về nhiều phương diện. Vậy mà ngày nay những khám phá mới mẻ và sâu sắc hơn vẫn tiếp tục ra đời. Điều đó chứng tỏ Chinh Phụ Ngâm súc tích biết chừng nào về giá trị nội dung lẫn giá trị nghệ thuật.

    Thời Lê mạt (Cảnh Hưng) - Chúa Trịnh (Trịnh Giang, Trịnh Doanh) là một thời kì nhiễu nhương và thối nát. Bọn vua chúa hoang dâm, ích kỉ và tàn bạo đã đẩy dân chúng vào cảnh lầm than, điêu đứng. "Thượng bất chính hạ tắc loạn". Đất nước chìm đắm triền miên trong cảnh loạn lạc, máu lửa và binh đao. Hàng ngàn vạn gia đình phải rơi vào tình cảnh chia li tan tác, tạo nên số phận bi thảm của những chinh phu và chinh phụ. Nỗi đau thương tưởng chừng thấu tới tận trời xanh. Chinh Phụ Ngâm ra đời như tiếng than van thống thiết của con người, của tình yêu đôi lứa, của gia đình trong cái thời đại đen tối ấy.

    Trước hết, bằng sự bóc trần thực trạng đời sống - nhất là đời sống nội tâm tràn ngập sầu đau - của người chinh phụ, tác phẩm nêu lên một luận đề hết sức quan trọng của xã hội: Chiến tranh và Hoà Bình.

    Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
    Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.

    Chỉ hai câu thơ đủ cho ta thấy: Một khi chiến tranh xảy ra thì con người nói chung, và đặc biệt là người phụ nữ, lập tức bị đẩy vào nghịch cảnh, vào nỗi khổ đau vô tận.

    Chiến tranh mà Chinh Phụ Ngâm đề cập chỉ là chiến tranh mưu bá đồ vương, bảo vệ ngai vàng của bọn vua chúa phong kiến.

    Cách nhìn chiến tranh như vậy chứng tỏ tác giả Chinh Phụ Ngâm đã đứng vững như bàn thạch trên một lập trường duy nhất: Lập trường của chủ nghĩa nhân bản.

    Bằng lập trường tiến bộ đó, tác giả vạch trần mâu thuẫn giữa quyền lợi của quần chúng nhân dân với quyền lợi ích kỉ của bọn vua chúa. Khi người chinh phụ vắng chồng phải sống những tháng năm đằng đẵng trong đau khổ, còn người chinh phu ngoài chiến địa bị đẩy vào cảnh chết c:

    Non kì quạnh quẽ trăng treo
    Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
    Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
    Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi

    thì ở chốn triều đình bọn vua chúa chẳng biết đấy là đâu:

    Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ?

    Câu thơ "Mặt chinh phu ai vẽ cho nên" đã tố cáo thẳng thừng kẻ thủ phạm tạo ra tấn bi kịch của chinh phu và chinh phụ: Đó chính là bọn vua chúa.

    Vạch trần bộ mặt hắc ám của chiến tranh, Chinh Phụ Ngâm đồng thời diễn tả giấc mộng đê mê của chinh phụ: Giấc mộng đoàn viên.

    Liên ngâm đối ẩm đòi phen
    Cùng chàng lại kết mối duyên đến già
    Cho bõ lúc sầu xa cách nhớ
    Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình

    Giấc mộng đoàn viên của chinh phụ phản ánh khát vọng hoà bình của nhân dân ta trong thế kỉ XVIII loạn lạc và tang tóc.

    Rõ ràng Chinh Phụ Ngâm muốn khẳng định chân lí: Hoà bình là điều kiện tiên quyết của hạnh phúc con người và hạnh phúc lứa đôi.

    Với lập trường nhân đạo sâu sắc triệt để, Chinh Phụ Ngâm đi vào chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn một phụ nữ phương Đông và khắc hoạ nên một bức tranh về thế giới tâm hồn kì diệu ấy. Không một ai không cảm thán trước vẻ đẹp vô ngần về tình cảm, sự thuần khiết và cao quí về đức hạnh, sự mẫn tuệ và sự khả ái của nàng. Vẻ đẹp tuyệt vời của tâm hồn người con gái Việt Nam chúng ta đã gặp trong ca dao, dân ca, truyện nôm khuyết danh. ở Chinh Phụ Ngâm, chúng ta gặp lại vẻ đẹp ấy nhưng đã được nâng cao hơn một bậc đáng kể nhờ sự gia công của văn chương bác học.

    Chinh phụ tuy không tách rời hẳn cuộc sống của người bình dân:

    Con thơ măng sữa vả đương phù trì.
    Lòng lão thân buồn khi tựa cửa
    Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm...

    nhưng nàng có phong cách quí phái của giới thượng lưu;

    Trâm cài xiêm thắt thẹn thùng
    hoặc: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
    hoặc: Mượn hoa mượn rượu giải buồn...

    Ở đẳng cấp trên, lại có học vấn - như bản thân Hồng Hà nữ sĩ - tâm hồn chinh phụ dồi dào hơn, sâu và cao hơn, cả về tư tưởng lẫn tình cảm so với người phụ nữ bình dân. Đó chính là một nguồn suối tâm tư đầy ắp sản sinh ra thiên trường thi trữ tình Chinh Phụ Ngâm.

    Lần theo dòng suy nghĩ của chinh phụ, chúng ta không thể không thán phục khối óc mẫn tuệ cũng như sự nhạy cảm của trái tim nàng. Vượt trên những giáo điều phong kiến - những thứ lí luận xám xịt - nàng đặt một câu hỏi hết sức nhân bản:

    Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ
    Chàng há từng học lũ vương tôn
    Cớ sao cách trở nước non
    Khiến người thôi sớm thì hôm những sầu?

    Nàng hối hận vì có lúc nàng đã quá dại khờ:

    Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu
    Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong.

    Và nàng đã khẳng định cái triết lí hạnh phúc "Tất cả ở đây, tất cả lúc này":

    Ấy loại vật tình duyên còn thế
    Sao kiếp người nỡ để đấy đây?
    Và: Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy

    Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau.
    Thiếp xin chàng chớ bạc đầu
    Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung!

    Thiết tưởng những tư duy đầy nhân bản ấy của chinh phụ có thể làm cho các nhà nhân văn thời Phục Hưng và thời Khai Sáng ở phương Tây phải thán phục!

    Người chinh phụ là hình tượng cổ điển cao quí, tiêu biểu cho phẩm chất của phụ nữ Việt Nam mọi thời đại.

    Tình yêu của nàng với chồng không gì sánh nổi. Mặc dù sống cách đây hai thế kỉ rưỡi, hình như nàng đã tìm thấy tình yêu đích thực, song phương và hạnh phúc:

    Trang phong lưu đang chừng niên thiếu
    Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên.

    Toàn bộ bản trường ca là nỗi nhớ nhung, lo âu mong đợi, thương xót và khát khao, khiến biết bao thế hệ con người đã phải rơi lệ!

    Tuy sống trong nghịch cảnh nhưng cách ứng xử của nàng tỏ ra hơn hẳn những người đàn bà tầm thường như vợ Tô Tần ngày xưa:

    Thiếp chẳng dại như người Tô phụ
    Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương
    Khi về đeo quả ấn vàng
    Trên khung cửi dám dẫy duồng làm cao.
    Xin vì chàng xếp bào cởi giáp
    Xin vì chàng rũ lớp phong sương,
    Vì chàng tay chuốc chén vàng,
    Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng!

    Chinh phụ ngâm - cuốn nhật kí tâm hồn của một người chinh phụ - đã cho chúng ta thấy tầm vóc cao đẹp về tình cảm, đức hạnh và trí tuệ của người phụ nữ Việt Nam thế kỉ XVIII, không hề thua kém nàng Pénélope của Hy Lạp cổ đại trong tác phẩm ODYSSéE bất hủ của Homère.

    So với nàng - con người giữ được nhiều tính chất thiên chân - thì hình ảnh người chinh phu có phần mờ nhạt. Hình như trong đầu óc kẻ chinh phu phong kiến này đầy dẫy những giáo điều chết cứng. Chàng lao vào chiến tranh như một cái máy:

    Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
    Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo,

    Chàng không ý thức được thực chất hành động xả thân của mình và chàng còn bị mù quáng bởi những bả vinh hoa:

    Non Yên tạc đá đề danh...

    Chính vì lẽ đó, kẻ nhìn rõ mặt trái của chiến tranh chính là người chinh phụ, chứ không phải là chinh phu, kẻ trực tiếp dấn thân "vào nơi gió cát"!

    Tuy nhiên lòng yêu chồng đã lấn át và bao trùm tất cả. Chinh phụ không một lời oán trách chồng. Phải chăng điều đó cho chúng ta thấy một nét đẹp khác: đó là sự nhu thuận trong tính cách của nàng?

    Về nghệ thuật, Chinh phụ ngâm là tác phẩm tiếng Việt ưu tú vào bậc nhất của văn học Việt Nam.

    Với Chinh phụ ngâm, ngôn ngữ văn học dân tộc đã được nâng tới trình độ tột đỉnh. Mỗi câu thơ đều được tạo thành bởi những từ ngữ tinh xác, được gọt giũa công phu bởi một văn tài lớn.

    Những câu thơ đầy hình ảnh:

    Áo chàng đỏ tựa ráng pha
    Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.

    Những câu thơ tả cảnh chiến địa thê lương:

    Non Kì quạnh quẽ trăng treo
    Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
    Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
    Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.

    Cảnh thiên nhiên sầu thảm:

    Sương như búa bổ mòn gốc liễu
    Nước dường cưa xẻ héo cành ngô
    Giọt sương phủ bụi chim gù
    Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.

    Những câu thơ tả "hình dong" người chinh phụ sầu não:

    Trâm cài xiêm thắt thẹn thùng
    Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng co.

    Và trên tất cả là những câu thơ tả tình, tả mọi trạng thái tâm lí:

    - Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
    - Hương gượng đốt hồn đà mê mải
    Gương gượng soi lệ lại chứa chan
    Sắt cầm gượng gẩy ngón đàn
    Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.

    Ngôn ngữ Việt Nam vốn giàu sức biểu hiện, giàu hình dung từ tinh tế, đã được vận dụng vào trong tác phẩm một cách tài tình:

    - Thét roi cầu vị ào ào gió thu
    - Lá cờ bay ngùi ngùi
    - Gà co óc gáy sương
    - Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa
    - Bến Ngân sùi sụt, cung trăng chốc mòng

    Đôi khi Chinh phụ ngâm dùng ngoa ngữ. Đó là dấu hiệu cho thấy ngôn ngữ thơ đã vượt tới một tầm cao, bắt đầu phát huy tính chất "cuồng phóng" vốn ít có trong văn chương "khuôn phép"thời xưa:

    - Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng
    Ôm đàn tranh mấy phím rời tay
    - Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt
    Trống tiều khua như rứt buồng gan
    Võ vàng đổi khác dung nhan...

    Chinh phụ ngâm sử dụng thể thơ đặc thù của dân tộc, đã có sẵn trong nền văn học dân gian: đó là thể song thất lục bát, giàu nhạc điệu hơn thể thơ lục bát bởi hai vần trắc ở hai câu 7. Thể thơ này tỏ ra thích hợp cho những tác phẩm trữ tình, như "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, "Ai tư vãn" của Lê Ngọc Hân, "Tự tình khúc" của Cao Bá Nhạ, "Khóc Dương Khuê" của Nguyễn Khuyến...

    Một tác phẩm văn chương bác học, được sáng tạo bởi một thể thơ thuần tuý dân tộc: Đó là bằng chứng hùng hồn cho thấy tiềm năng to lớn của tiếng Việt. Đồng thời chính điều đó đã khiến Chinh phụ ngâm trở nên ưu việt, được quảng đại quần chúng tiếp nhận, tán thưởng và truyền tụng suốt từ đời nọ đến đời kia.

    Chinh phụ ngâm chuyển hoá một cách tài tình những điển cố và những câu thơ của văn học Trung Hoa sang tiếngViệt, làm giàu cho kho từ vựng ngô ngữ văn học nước nhà:

    Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
    Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
    Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
    Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
    - Chàng ruổi ngựa dặm ngàn mây phủ
    Thiếp dạo hài lối cũ rêu in...

    (phỏng thơ Lí Bạch)

    - Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu
    Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong

    (Phỏng thơ Vương Xương Linh)

    Chinh phụ ngâm còn sử dụng nhạc điệu vô cùng điệu nghệ khiến cho tác phẩm từ lúc ra đời đến nay dường như không phải để đọc mà là để ca, để ngâm ngợi ... Với "AIR" giai điệu hoà thanh trầm sầu và da diết, có đổi thay theo từng trạng thái tâm hồn, ca khúc Chinh phụ ngâm đã làm say mê biết bao thế hệ con người...

    Vì những lí do đã nêu trên, Chinh phụ ngâm đã trở thành kiệt tác thi ca, và bản diễn nôm của Hồng Hà nữ sĩ được đánh giá là hay hơn cả nguyên tác Hán văn của Đặng Trần Côn.

    --------------------

    (1)Bản thân nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã từng trải tâm trạng y hệt tâm trạng của người chinh phụ. Sau khi lấy chồng được vẻn vẹn một tháng thì chồng bà là Nguyễn Kiều phải cầm đầu phái bộ đi sứ sang nhà Thanh trong ba năm trời. Có lẽ vì thế bà đã dồn tất cả tâm huyết để diễn nôm tác phẩm của Đặng Trần Côn. Những năm gần đây có ý kiến cho rằng tác giả của bản nôm Chinh Phụ Ngâm hiện hành là Phan Huy ích. Nhưng các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam cho biết hiện vẫn chưa có đủ tài liệu chính xác, tin cậy để xác nhận điều đó. Vì vậy vị trí của Hồng Hà nữ sĩ đối với bài diễn ca chinh Phụ Ngâm vẫn chưa có thể thay Nguồn sưu tầm!


  3. Có 4 thành viên cảm ơn ÁcMa cho bài viết này:
    boomboom0101 (29-03-2009), namdausieuto (19-04-2010), net678 (28-03-2009), nguyentrungtin067 (04-07-2009)

  4. #3
    ngocphu079st's Avatar
    ngocphu079st vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jun 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    0
    Điểm
    8/6 bài viết

    Default

    nhiều quá vậy bạn tóm tắt dùm đi bạn

  5. #4
    net678's Avatar
    net678 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Sắt
    Tham gia
    Aug 2008
    Bài
    142
    Cảm ơn
    140
    Điểm
    48/21 bài viết

    Default

    mẹ người ta kím dùm thì làm vậy đi hok cám ơn người ta 1 tiếng còn đòi hỏi yêu cầu.................

  6. #5
    ÁcMa's Avatar
    ÁcMa vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Cống hiến cho [V-Z]
    Tham gia
    Jul 2008
    Đến từ
    Hải Phòng
    Bài
    5.343
    Cảm ơn
    799
    Điểm
    4.736/2.077 bài viết

    Default

    Bạn muốn điểm cao mà ngại làm dài như thế thì mình cũng bó tay. Văn mình làm vài ba tờ giấy thi Đại học mà mới dc có 7 điểm thôi.


  7. #6
    [VNZ]Thunder's Avatar
    [VNZ]Thunder vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Gà Con
    Tham gia
    Apr 2008
    Bài
    5
    Cảm ơn
    1
    Điểm: 1/1 bài viết

    Default

    Thông cảm cho bác ấy. Bác đó chỉ có nhiệm vụ copy - paste từ trang khác mà "quên" ghi nguồn thôi...

  8. Có 1 thành viên cảm ơn [VNZ]Thunder cho bài viết này:
    ÁcMa (27-04-2009)

  9. #7
    trianlac0222's Avatar
    trianlac0222 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ Đôi
    Tham gia
    Apr 2009
    Bài
    26
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    10/9 bài viết

    Default

    người ta đã giúp cho rồi mà lại còn...

  10. Có 1 thành viên cảm ơn trianlac0222 cho bài viết này:
    ÁcMa (27-04-2009)

  11. #8
    ÁcMa's Avatar
    ÁcMa vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Cống hiến cho [V-Z]
    Tham gia
    Jul 2008
    Đến từ
    Hải Phòng
    Bài
    5.343
    Cảm ơn
    799
    Điểm
    4.736/2.077 bài viết

    Default

    Trích phamducsang View Post
    gui dum minh doan trich "tinh canh le loi cua nguoi chinh phu 'nha!thank
    Bạn viết tiếng việt có dấu nha.
    Nếu có yêu cầu thì bạn lập 1 topic mớinef, rồi yêu cầu.Mình chắc chắn sẽ có nhiều bạn vào giúp, tim tài liệu hộ lắm đó.Tất nhiên có cả mình.Okie


  12. #9
    hungvn9's Avatar
    hungvn9 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Bạc
    Tham gia
    Feb 2010
    Bài
    379
    Cảm ơn
    19
    Điểm
    110/39 bài viết

    Default

    mua quyển sách học tốt về đọc cho hết là đậu thôi

  13. #10
    linh1994bg's Avatar
    linh1994bg vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Gà Con
    Tham gia
    Apr 2010
    Bài
    1
    Cảm ơn
    0
    Điểm
    0/0 bài viết

    Default

    ừm, mai bọn mình cũng phải nộp bài đó ùi, đề của bọn mình là phân tích nghệ thuật bài tình cảnh lẻ loi của người chinh ohuj...Ai giuóp mình đi!!! thanks trước nha!!

  14. #11
    ngonluarecca's Avatar
    ngonluarecca vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Sắt
    Tham gia
    Oct 2008
    Bài
    123
    Cảm ơn
    249
    Điểm
    60/34 bài viết

    Exclamation

    gfxhddddjxj

    ---------- Bài viết đã được nhập tự động bởi hệ thống ----------

    vccccccnmtkjtyk
    Thay đổi nội dung bởi ngonluarecca; 27-04-2010 lúc 07:59. Lý do: Hệ thống nhập bài tự động

  15. #12
    Tham gia
    May 2010
    Bài
    1
    Cảm ơn
    0
    Điểm
    0/0 bài viết

    Talking

    Trích hungvn9 View Post
    mua quyển sách học tốt về đọc cho hết là đậu thôi
    chưa chắc đâu zì mua về không học thì cho dù mua chục quyển sách về cũng chẳng được j

  16. #13
    quangbao2504's Avatar
    quangbao2504 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Thành viên đang bị kỷ luật
    Tham gia
    May 2009
    Bài
    665
    Cảm ơn
    273
    Điểm
    91/67 bài viết

    Default

    hay lắm bạn

  17. #14
    yunhi's Avatar
    yunhi vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Gà Con
    Tham gia
    Mar 2011
    Bài
    1
    Cảm ơn
    0
    Điểm
    0/0 bài viết

    Default

    cám ơn mọi người nha, mình thầy bài văn khá hay nhưng chép trang này liệu giáo viên có pít mà trừ điểm thì có mà toi đời luôn huhuhu

  18. #15
    hjhjhaha...'s Avatar
    hjhjhaha... vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Gà Con
    Tham gia
    May 2011
    Bài
    1
    Cảm ơn
    0
    Điểm
    0/0 bài viết

    Default

    Trích ngocphu079st View Post
    Ai có bài viết nào hay thì post lên dùm mình nhé thứ 2 là mình phải nộp rồi các bạn giúp mình nhé
    gồm 36 câu thơ trong tổng số 408 câu của toàn tác phẩm là sự thể hiện nỗi đơn côi, trống vắng của người chinh phụ. Trước hết đó là sự ý thức về con người cá nhân chiếu ứng trong các quan hệ với cảnh vật và con người, đặt trong tương quan với thời gian và không gian. Nhân vật chủ thể trữ tình - người chinh phụ xuất hiện như có như không, vừa tỉnh thức trong từng bước đi, từng động tác buông thả tấm rèm nhưng liền đó lại quên tất thảy, thờ ơ với tất thảy:
    Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
    Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
    Trong khổ thơ mở đầu (từ câu 1 - 16) có hai hình ảnh quan trọng được tô đậm, nhấn mạnh trở đi trở lại là tấm rèm và bóng đèn. Người chinh phụ "ngồi rèm thưa" mà trông ra ngoài ngóng đợi tin chồng nhưng chẳng thấy đâu. Cuộc sống nơi "trong rèm" chính là sự bó buộc, trói buộc trong một không gian chật hẹp, tù đọng. Câu thơ chuyển tiếp Trong rèm dường đã có đèn biết chăng càng tôn thêm vẻ vắng lặng, đơn côi, một mình chinh phụ đối diện với bóng mình, đối diện với người bạn vô tri vô giác Đèn có biết dường bằng chẳng biết và đi đến kết cuộc Hoa đèn kia với bóng người khá thương... Rõ ràng cuộc đời người chinh phụ hầu như đã mất hết sức sống, con người đã bị "vật hoá" tựa như tàn đèn cháy đỏ kết lại đầu sợi bấc, con người bây giờ chỉ còn là "bóng người" trống trải, vừa đối xứng vừa đồng dạng và là hiện thân của chính kiếp hoa đèn tàn lụi. Ngay đến cảnh vật và sự sống bên ngoài cũng nhuốm vẻ tang thương, vô cảm, chập chờn bất định, không dễ nắm bắt với những "gà eo óc gáy sương", "hoè phất phơ rủ bóng"... Bên cạnh đó, dòng thời gian tâm lý cũng chuyển hoá thành sự đợi chờ mòn mỏi, thời gian đầy ắp tâm trạng đơn côi nhưng không có sự sống, không sự kiện, không thấy đâu bóng dáng hoạt động của con người:
    Khắc chờ đằng đẵng như niên,
    Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
    Trong sự chờ đợi, người chinh phụ thấy một khoảng thời gian ngắn mà dài như cả năm trường, mối sầu trào dâng như biển lớn mênh mang. Những trạng từ "đằng đẵng", "dằng dặc" tạo nên âm điệu buồn thương, ngân xa như tiếng thở dài của người thiếu phụ đăm đắm chờ chồng. Rút cuộc, hình bóng người chinh phụ có xuất hiện trở lại thì trước sau vẫn là nỗi chán chường, buông xuôi, vui gượng "Hương gượng đốt", "Gương gượng soi", "Sắt cầm gượng gảy" mà không sao che đậy nổi một hiện thực bất như ý "hồn đà mê mải", "lệ lại châu chan" và "Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng"...

    Ở đoạn thơ tiếp theo (câu 17 - 28) là sự phản ánh nỗi lòng chinh phụ khi nhớ về người chồng. Có điều, nếu hình ảnh người chồng hiện diện như một ý niệm xa mờ thì bản thân nỗi nhớ mong cũng chỉ như một ảo giác. Sự gặp gỡ là điều không thể bởi tin tức mịt mờ, bởi khoảng cách về không gian, về địa danh có tính phiếm chỉ, biểu tượng của miền "non Yên", "đường lên bằng trời", "xa vời khôn thấu"... Các từ "thăm thẳm", "đau đáu", "thiết tha" gợi nhớ gợi thương, day đi dứt lại trong tâm can người chinh phụ. Sắc thái nỗi nhớ tăng tiến, rộng mở từ những suy tưởng dõi theo người chồng nơi phương xa đến sự dồn nén cảm xúc thành nỗi xót xa, đắng cay nối dài bất tận:
    - Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
    - Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
    Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu - Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?", người chinh phụ có lúc thấy cảnh vật vô hồn, thê lương nhưng có khi lại cảm nhận cả khoảng không gian và cảnh vật như đang hối thúc, giục giã, đổi thay, không tìm thấy đâu sự hô ứng, đồng cảm giữa tình người với thiên nhiên:
    Cảnh buồn người thiết tha lòng,
    Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
    Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,
    Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.
    Hình ảnh so sánh "sương như búa", "tuyết dường cưa" là sự cực tả những xao động của thế giới bên ngoài thông qua cách hình dung của chinh phụ, khi nàng bất chợt không còn chịu đựng nổi ngay cả vẻ bình dị đời thường và bột phát thành những ám ảnh dị thường. Đó là những tâm trạng khác biệt nhau cùng tồn tại trong một con người, sự phân thân trong cách cảm nhận về thiên nhiên, cuộc sống. Trong bản chất, chính tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã tạo nên những xung đột tình cảm khác biệt nhau và phổ vào thế giới tự nhiên tất cả những trái ngang, những thất vọng và cả niềm hy vọng mong manh, những giây lát yên tĩnh nhất thời và những cơn bão lòng dường như không thể nguôi khuây.

    Bước vào đoạn cuối (câu 29 - 36), người chinh phụ vươn tới không gian thoáng rộng hơn với những hàng hiên, ngọn gió, bóng hoa, ánh trăng nhưng đó cũng chỉ là thiên nhiên lạnh lùng, thiếu hẳn niềm tin và hơi thở ấm áp của sự sống. Cảnh vật như tách khỏi con người và không thấy đâu hoạt động của con người. Tất cả chỉ đơn thuần là cảnh vật và vì thế càng tôn thêm vẻ lạnh lùng, đối lập với tâm tư con người và hình ảnh nhân vật chinh phụ đang khuất lấp, ẩn chìm đâu đó:
    Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
    Nguyệt ***g hoa, hoa thắm từng bông.
    Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
    Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu!
    Đến hai câu thơ cuối bắt đầu hé mở tâm trạng so sánh. Người chinh phụ nhìn cảnh hoa nguyệt mà trạnh lòng bâng khuâng xót xa cho thân phận mình, tủi phận mình lẻ loi trước cảnh nguyệt hoa. Từ đây có thể nói tới những dự cảm về ý thức cá nhân của người chinh phụ và xa gần liên hệ tới quyền sống, quyền hưởng niềm vui, hạnh phúc lứa đôi giữa chốn nhân gian.

    Trên phương diện nghệ thuật, thể thơ song thất lục bát với sự kết hợp hai câu thơ bảy chữ kiểu Đường thi hàm súc, trang nhã, đăng đối và câu thơ lục bát truyền thống giàu âm điệu, gợi cảnh gợi tình đã tạo nên nhịp thơ buồn thương man mác, nối dài không dứt. Quan sát kỹ có thể thấy từng bốn câu thơ đi liền nhau tạo thành một tiết đoạn, trong đó hai câu thất ngôn đóng vai trò khơi dẫn ý tứ, hai câu lục bát tiếp theo hướng tới luận bình, khai triển, mở rộng. Cứ như thế, các ý thơ, khổ thơ tiếp tục luân chuyển, nối tiếp nhau như những ngọn sóng cảm xúc đang trào dâng. Ngay trong từng câu thơ cũng xuất hiện những tiểu đối tạo nên tính chất hô ứng, đăng đối, tạo ấn tượng và sự nhấn mạnh:
    - Dây uyên kinh đứt/ phím loan ngại chùng
    - Cành cây sương đượm/ tiếng trùng mưa phun
    - Sâu tường kêu vắng/ chuông chùa nện khơi
    Thêm nữa, tác phẩm diễn Nôm bên cạnh việc giữ lại và Việt hoá được cả hệ thống điển tích và từ Hán Việt (non Yên, sắt cầm, dây uyên, phím loan, gió đông...) thì nhiều ý tứ trong nguyên tác đã được chuyển dịch, nâng cấp thành lời thơ thật sự giàu chất thơ. Chẳng hạn, với câu Sầu tự hải - Khắc như niên (nguyên ý nghĩa chỉ là Sầu tựa biển - Khắc như năm) đã được chuyển dịch thành câu thơ mang sắc thái nội tâm hoá, giàu cảm xúc, khơi gợi âm điệu cảm thương:
    Khắc chờ đằng đẵng như niên,
    Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
    Đoạn trích nói về tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cũng như toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm là tiếng kêu thương của người phụ nữ chờ chồng, nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa. Tình cảnh lẻ loi đó được chiếu ứng trong sự cảm nhận về thời gian đợi chờ đằng đẵng, không gian trống vắng vây bủa bốn bề và cuộc sống hoá thành vô vị, mất hết sinh khí. Trên tất cả là tâm trạng cô đơn và sự ý thức về thảm trạng mất đi niềm tin, đánh mất niềm vui sống và mối liên hệ gắn bó với cuộc đời rộng lớn. Trạng thái tình cảm đó một mặt có ý nghĩa tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận và hệ quả tiếp theo là bao nhiêu số phận chinh phụ héo hon tựa cửa chờ chồng, mặt khác xác nhận nhu cầu nói lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này. Không có gì khác hơn, đó chính là khả năng mở rộng diện đề tài, khai thác sâu sắc hơn thế giới tâm hồn con người, xác định nguồn cảm xúc tươi mới và khẳng định những giá trị nhân văn cao cả mà khúc ngâm đã đem lại, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của giai đoạn văn chương thế kỷ XVIII trong tiến trình phát triển chung của nền văn học dân tộc.
    ( tam thui na)

 

 
Trang 1/2 1 2 cuốicuối

Quyền sử dụng

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể tự sửa bài viết của mình
  •