Follow us on...
Follow us on Twitter Follow us on Facebook Watch us on YouTube

Giúp các bé đáng thương ấy với

Gameshow “Ai Là Triệu Phú” trên VTV đang chờ đón bạn – Tải ngay!

Bán đấu giá ủng hộ từ thiện

Sự kiện công nghệ lớn nhất trong năm của Sony sắp đổ bộ Hà Nội

Chiêm ngưỡng BaoMoi đẹp "tuyệt diệu" trên Windows Phone

Tin tức công nghệ mới
Trang 3/3 đầuđầu 1 2 3
kết quả từ 31 tới 33 trên 33
  1. #31
    taigta1's Avatar
    taigta1 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá Đôi
    Tham gia
    May 2010
    Bài
    103
    Cảm ơn
    67
    Điểm
    77/20 bài viết

    Default

    Trích aotasoft View Post
    mình chưa học lớp 8
    Kết cái avarta

  2. #32
    Tham gia
    Oct 2012
    Bài
    6
    Cảm ơn
    0
    Điểm
    0/0 bài viết

    Default

    tớ làm cái này rồi, được 7.5 điểm, có cái này mới tức, kt 15', thầy cho đề thuyết minh về Bác Hồ, câu chủ đề là Bác Hồ, Người lãnh tụ vĩ đại. có 5 điểm ak
    ~~

  3. #33
    wayerooney's Avatar
    wayerooney vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ Đôi
    Tham gia
    Jan 2013
    Bài
    28
    Cảm ơn
    5
    Điểm
    39/15 bài viết

    Default

    Dàn bài:
    Thuyết minh về thể thơ tứ tuyệt
    *MB: Giới thiệu về thơ tứ tuyệt:đây là thể thơ có số chữ, số dòng , có niêm, luật chặt chẽ, xuất phát từ thời Đường bên Trung Quốc
    *TB: Nêu đặc điểm của thể thơ
    +Mỗi bài có 4 câu
    +Mỗi câu có 7 chữ
    +Quy luật bằng trắc của thể thơ
    +Cách gieo vần của thể thơ:thông thường có thể có 3 vần (câu 1,2,4) hoặc 2 vần (câu 2,4); vần có thể la vần chính , có thể la vần thông
    cắt ngắt nhịp phổ biến của mỗi dòng thơ:Có thể ngắt 4/3 hoặc 3/4 nhưng 4/3 nhiều hơn, thông dụng hơn
    *KB: Vai trò của thể thơ

    Bài làm:

    Thơ Tứ Tuyệt

    Tứ Tuyệt là thể thơ chỉ có 4 câu, mỗi câu có 5 hoặc 7 chữ, còn gọi là Tuyệt Cú. Còn Bát Cú là thể thơ có 8 câu, mỗi câu có 5 hoặc 7 chữ. Hai thể thơ này đã trải qua suốt chiều dài văn học sử VN hơn 1,000 năm, có sức sống tiềm tàng mãnh liệt, do nghệ thuật tinh diệu được chắt lọc, cô đọng qua những cây bút lừng danh trong nhiều thế kỷ. Thể Bát Cú xuất hiện từ đời Đường bên Tàu có luật tắc nghiêm ngặt đã rõ rồi, nhưng thể Tứ Tuyệt xuất hiện từ thời nào? Truyền sang VN ra sao, kể cả quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện và luật tắc của nó... đến nay vẫn còn phức tạp. Do đó trong bài viết này, chúng tôi muốn quay về nguồn cội để tìm hiểu thấu đáo về thể thơ này, xin được trình bày dưới đây để chúng ta biết được lịch sử và cái hay cái đẹp của nó để có thể phát huy tinh hoa làm giàu nền thi ca VN.

    Thời nhà Đường (618 - 907) bên Tàu sử dụng hai thể thơ chính:
    - Cổ Thể: gồm Cổ phong và Nhạc phủ, không hạn chế số câu số chữ, không ràng buộc niêm luật đối vận nên phóng khoáng dễ diễn đạt tâm hồn.
    - Kim Thể: gồm Bát cú (thơ luật) và Tuyệt cú (tứ tuyệt), còn gọi là Đường luật gò bó về niêm luật đối vận khó diễn đạt nhưng có cấu trúc chặt chẽ, cân đối, hài hòa. Bát cú là dạng chính của thơ Đường luật, từ đó có Tứ tuyệt tức Tuyệt cú.
    Tuy nhiên, từ xưa đến nay ở Trung Hoa và Việt Nam (VN) có nhiều thuyết định nghĩa về thơ Tứ tuyệt (Tuyệt cú) và sự hình thành của thể thơ này.

    1.Thuyết Định Nghĩa 1: Cụ Bùi Kỷ theo thuyết Ngô Tề đời Thanh cho rằng 'Tuyệt là tuyệt diệu, mỗi câu chiếm một vị trí đặc biệt. Chỉ trong bốn câu mà thiển, thâm, ẩn hiện, chính kỳ, khởi phục đủ cả cho nên gọi là tuyệt’. Còn nhà nghiên cứu Phan Văn Nhiễm lại hiểu chữ tuyệt là tuyệt vời: 'Thơ bốn câu gọi là tứ tuyệt, người Trung Quốc gọi là tuyệt cú, tức là bài thơ hay tuyệt vời, vì chỉ có bốn câu 20 từ hoặc 28 từ mà nói lên được đầy đủ ý tứ của một đề tài theo đúng luật lệ của thơ Đường.'

    2. Thuyết Định Nghĩa 2: Gần đây ở VN có nhiều công trình chứng minh Tứ tuyệt xuất hiện ở Trung Hoa khá sớm mà ca dao cổ đại là đầu nguồn lịch sử của tuyệt cú; có mầm mống trong Kinh Thi, xuất hiện đầu tiên trong nhạc phủ thời Nhà Hán (206 TCN-220 CN) phát triển thời Nam-Bắc-Triều (420-589). Đến thời Sơ Đường (618 - 713), tứ tuyệt chuyển mình, chỉnh đốn về niêm, luật, đối, vận. Qua thời Thịnh-Đường(713 - 766), tứ tuyệt phát triển về số lượng, chất lượng; trong suốt quá trình hình thành, phát triển trải qua mấy trăm năm, Đây là thời kỳ toàn thịnh nhất vì hầu hết các nhà thơ lớn đều làm tứ tuyệt, nghệ thuật đi tới chỗ hoàn thiện, số lượng tăng vọt mà đứng đầu là Lý Bạch 193 bài, kế đến Đỗ Phủ 139 bài, Vương Duy 106 bài, Vương Xương Linh 89 bài.

    Nói một cách ngắn gọn, tứ tuyệt xuất hiện đầu tiên từ thời Nhà Hán (206 TCN-220 CN) gọi là liên cú, qua đời Nhà Tấn (265-420) gọi là tuyệt hưởng (không có hưởng ứng), tức là tuyệt cú hoặc đoạn cú. Lý Trường Lộ khẳng định: Tuyệt cú còn gọi là tiệt cú hoặc đoạn cú. Đến đời Nhà Đường (618-907) gọi là luật tuyệt. Như vậy, Tứ tuyệt là một thể loại độc lập, có quá trình hình thành phát triển lâu dài khoảng 800 năm trước Bát Cú thời Đường là một chỉnh thể nghệ thuật riêng biệt chứ không phải là một bộ phận được ngắt ra từ Luật thi hay Cổ thi.

    3. Thuyết Định Nghĩa 3: Ô. Dương Mạnh Huy căn cứ thuyết Tiền Mộc Am (đời Thanh) khẳng định: “Tuyệt là Tiệt (ngắt), cú là câu, tuyệt cú nghĩa là cũng theo những luật đó mà ngắt ra dùng 4 câu nửa bài trong luật 8 câu”. Từ đó, ông phân tuyệt cú ra làm 4 loại, tùy theo 4 cách ngắt trong một bài bát cú: ngắt 4 câu đầu, ngắt 4 câu giữa, ngắt 4 câu cuối và ngắt 2 câu đầu, 2 câu cuối. Thuyết này được học giả Trần Trọng Kim, GS Dương Quảng Hàm, GS Trần Đình Sử tán thành.

    4- Định Nghĩa Của Từ Điển Văn Học:
    “Thơ tứ tuyệt theo nghĩa rộng, chỉ những bài thơ nhỏ, mỗi bài gồm bốn câu, mỗi câu thường năm hoặc bảy chữ. Theo nghĩa hẹp, còn gọi là tuyệt cú, gồm hai dạng: cổ tuyệt (tứ tuyệt theo lối cổ thi) và luật tuyệt (tứ tuyệt làm theo thể Đường luật)”.

    5. Kết Luận: Như vậy, chúng ta có thể xác định Tứ Tuyệt xuất hiện khoảng 800 năm trước thời nhà Đường, cách nay trên 2 nghìn năm với 4 câu phóng khoáng gọi là cổ tuyệt, tức tứ tuyệt theo lối cổ thi. Đến đời Đường do ảnh hưởng của thơ Bát Cú chặt chẽ về niêm luật đối vận, nên người ta mới áp dụng vào Tứ tuyệt, cho nên mới gọi tứ tuyệt làm theo thể Đường luật. Từ đó người ta gom chung cả Bát Cú và Tứ Tuyệt thành một thể chung gọi là Thơ luật hay Đường luật: Đường luật bát cú, Đường luật tứ tuyệt. Rồi theo thời gian người ta quên đi nguồn gốc của Tứ Tuyệt là một thể thơ đã có trước Bát Cú tới khoảng 800 năm.

    6. Tứ Tuyệt ở Việt Nam: Từ thời nhà Lý (1009 - 1225) đã xuất hiện thơ Tứ Tuyệt bằng chữ Hán. Đến thời nhà Trần (1225 - 1400), Nguyễn Thuyên là người đầu tiên làm thơ Nôm theo Đường luật, gọi là Hàn luật, có nhiều bài tứ tuyệt xuất sắc trong Phi sa giản tập của ông. Đến thời nhà Lê (1428 - 1788) , thi hào Nguyễn Trãi làm nhiều Tứ tuyệt trong Ức Trai Thi Tập bằng chữ Hán và Quốc Âm Thi Tập bằng chữ Nôm. Đến thời nhà Nguyễn (1802 - 1945), Bát cú được ưa chuộng hơn Tứ tuyệt. Từ thời Tiền Chiến đến nay, Bát cú suy vi, Tứ tuyệt được cách tân dưới dạng “trường thiên tứ tuyệt” gồm nhiều bài tứ tuyệt ghép lại, mà hầu như nhà thơ nào cũng làm, như Nguyễn Nhược Pháp bài Chùa Hương năm 1934, Vũ Đình Liên bài Ông Đồ năm 1936, Thế Lữ bài Giây Phút Chạnh Lòng tặng Nhất Linh năm 1937, TTKh bài Hai Sắc Hoa Ty Gôn năm 1937, Kiên Giang bài Hoa trắng thôi cài trên áo tím, năm 1962, v.v... Đặc biệt, Quách Tấn nhà thơ Đường luật thất ngôn bát cú, cũng ngã qua làm Tứ tuyệt, xuất bản thi tập Đọng Bóng Chiều năm 1965 gồm 100 bài toàn Tứ tuyệt. Tô Thùy Yên nhà thơ tự do cũng cầm bút viết trường thiên tứ tuyệt, bài Ta Về (1985) rất dài với trên 30 khổ tứ tuyệt thuộc hàng tuyệt bút.

    7. Một Số Bài Thơ Tứ Tuyệt Nổi Tiếng Của VN:

    - Lý Thường Kiệt (1019-1105):

    Năm 1076 nhà Tống đem 10 vạn quân tinh nhuệ, hợp với quân Chiêm Thành và quân Chân Lạp sang xâm chiếm nước Đại Việt. Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến ở bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu). Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân (Trương Hống và Trương Hát: hai vị tướng đánh giặc giỏi của Triệu Quang Phục) có tiếng đọc to bài thơ thần mà tác giả chính là Lý Thường Kiệt:

    Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

    (Sông núi nước Nam vua Nam ở,
    Rành rành định phận tại sách trời.
    Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
    Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!
    không rõ dịch giả)

    *Đây là bài thơ cổ nhất, hùng tráng nhất, chủ đề có tính thời đại nhất, thường được xem là “bản tuyên ngôn độc lập băng thơ đầu tiên của VN”.

    - Trần Quang Khải:

    Năm 1284, đem quân vào thành Thăng Long mở tiệc khao quân sau khi đánh tan giặc Nguyên (Thoát Hoan bỏ chạy về Tàu), tướng Trần Quang Khải làm bài tứ tuyệt:

    Đoạt sáo Chương Dương độ
    Cầm Hồ Hàm Tử quan
    Thái bình nghi nỗ lực
    Vạn cổ thử giang san

    (Chương Dương cướp giáo giặc
    Hàm Tử bắt quân thù
    Thái bình nên gắng sức
    Non nước ấy nghìn thu
    Trần Trọng Kim dịch)

    - Vua Trần Nhân Tông:


    Xuân hiểu
    Ngủ dậy ngó song mây
    Xuân về vẫn chửa hay.
    Song song đôi bướm trắng
    Phấp phới sân hoa bay.



    - Nguyễn Thuyên:

    Ông là người đầu tiên làm thơ Nôm theo Đường luật, gọi là Hàn luật. GS Dương Quảng Hàm nhận xét: “Ông là người đầu tiên biết làm thơ phú bằng quốc âm, nên ông có thể coi là ông tổ của văn nôm”.

    Văn tế cá sấu

    Ngặc ngư kia hỡi! Mày có hay!
    Biển Đông rộng rãi là nơi này
    Phù Lương đây thuộc về thánh vực
    Lạc lối đâu mà lại đến đây

    Há chẳng nhớ rằng nước Việt xưa
    Dân quen chài lưới chẳng tay vừa
    Đời Hùng vẽ mình vua từng dạy
    Xuống nước giao long cũng phải chừa

    Thánh thần nối dõi bản triều nay
    Dấy từ Hải ấp ngôi trời thay
    Võ công lừng lẫy bốn phương tịnh
    Biển lặng sông trong mới có rày

    Hùm thiêng xa dấu dân cày cấy
    Nhân vật đều yên đâu ở đấy
    Ta vâng đế mạng bảo cho mày
    Hãy vào biển Đông mà vùng vẫy...

    (trích từ “Les chefs-d“oeuvres de la littérature Vietnamiennes”, Dương Đình Khuê, Kim Lai Ấn Quán, Sài Gòn, 1966).

    Tập thơ Phi sa giản tập của Nguyễn Thuyên viết về thiên nhiên bằng chữ Nôm như các bài:

    Xuân
    Hoa nở, lộc hường, xuân lại xuân,
    Cỏ cây mơn mởn đón đông quân.
    Bướm ong bay rộn. Trời đang ấm
    Mừng mảng trăng xuân sáng bội phần

    (Trích Phi sa giản tập theo Ngô Văn Phú - Văn Nghệ Trẻ).

    Gió nồm
    Ra tết hây hây gặp gió nồm
    Cỏ loang mặt đất.
    Lúa xanh om
    Người hòa tươi tốt.
    Cảnh hòa lạ
    Biếc một ngàn xa.
    Biếc núi non...
    (Trích Phi sa giản tập theo Ngô Văn Phú - Văn Nghệ Trẻ)



    - Ngô Chi Lan (thế kỷ XV):

    Trước sự tích Đức Thánh Gióng, nữ sĩ cảm tác bài tứ tuyệt:
    Vệ Linh cây cỏ lẫn mây ngàn
    Muôn tía nghìn hồng đẹp thế gian
    Ngựa sắt lên trời tên rạng sử
    Anh hùng mãi mãi với giang san.



    - Nguyễn Trãi (1380 - 1442): Thi hào thời Lê có nhiều thi tập.

    Mộ Xuân Tức Sự
    Nhàn trung tận nhật bế thư trai
    Môn ngoại toàn vô tục khách lai
    Đỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão
    Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai.
    (trích Ức Trai Thi Tập)

    Cuối Xuân Tức Cảnh
    Suốt ngày nhàn nhã khóa phòng văn
    Khách tục không lai vãng đến gần
    Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn
    Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan.
    Vinh Hồ dịch

    Trại Đầu Xuân Độ
    Độ đầu xuân thảo lục như yên
    Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên
    Dã kính hoang lương hành khách thiểu
    Cô châu trấn nhật các sa miên
    (trích Ức Trai Thi Tập)

    Bến Đò Xuân Đầu Trại
    Cỏ xuân đầu bến xanh như khói
    Lại có mưa xuân nước vỗ trời
    Quạnh quẽ đường đồng thưa thớt khách
    Con đò gối bãi suốt ngày ngơi.
    Điềm Ca / Vinh Hồ dịch

    Cây chuối
    Tự bén hơi xuân tốt lại thêm
    Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
    Tình thư một bức phong còn kín
    Gió nơi đâu gượng mở xem.

    Vô đề
    Cây rợp tán che am mát
    Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn
    Rùa nằm hạc lẫn nên bầy bạn
    Ủ ấp cùng ta làm cái con.

    Thuật hứng
    Hái cúc ương lan hương bén áo;
    Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn
    Đàn cầm suối trong tai dội
    Còn một non xanh là cố nhân.



    - Vua Lê Thánh Tông: Vị Vua tài đức:

    Con Cóc
    Bố mẹ sinh ra vốn áo sồi
    Chốn nghiêm thăm-thẳm một mình ngồi.
    Nghiến răng ba tiếng cơ trời động
    Tắc lưỡi vài hồi chúng kiến lui



    - Nguyễn Hữu Chỉnh

    Cái Pháo
    Xác không, vốn những cậy tay người,
    Bao nả công trình, tạch cái thôi!
    Kêu lắm, lại càng tan tác lắm,
    Thế nào cũng một tiếng mà thôi.


    - Hồ Xuân Hương: Bà Chúa thơ Nôm

    Bánh trôi nước
    Thân em vừa trắng lại vừa tròn
    Bảy nổi ba chìm với nước non
    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
    Mà em vẫn giữ tấm lòng son.



    - Trần Tế Xương: nhà thơ trào phúng

    Ba cái lăng nhăng
    Một trà một rượu một đàn bà,
    Ba cái lăng nhăng nó quấy ta,
    Chừa được cái nào hay cái nấy,
    Có chăng chừa rượu với chừa trà.



    - Yến Lan: nhà thơ tiền chiến

    Hồn mưa
    Cửa khép giờ này em ngủ say
    Ngoài kia trời đất trở heo may
    Lặng thầm chiếc nón treo trên vách
    Quanh nón hồn mưa chấp chới bay



    - Quách Tấn: nhà thơ tiền chiến

    Ngậm Lòng
    Từ phen mây nước đổi
    Biếc ngậm lòng sông sâu
    Nhìn cầu xưa chửa nối
    Đôi bờ thương nhớ nhau.

    Mong Đợi
    Ngọt ngào xuân rụng móc
    Cam chuối đượm tình quê
    Tựa cửa chờ trăng mọc
    Muôn xa lòng ghé về



    - Hàn Mặc Tử: nhà thơ tiền chiến

    Đây Thôn Vĩ Dạ (trường thiên tứ tuyệt)

    Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,
    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
    Lá trúc che ngang mặt chữ điền

    Gió theo lối gió, mây đường mây
    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
    Có chở trăng về kịp tối nay?

    Mơ khách đường xa, khách đường xa,
    Áo em trắng quá nhìn không ra...
    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
    Ai biết tình ai có đậm đà?
    8. Một Số Bài Thơ Tứ Tuyệt Nổi Tiếng Của Trung Hoa:

    - Cổ phong tứ tuyệt thời Nam-Bắc-Triều: gọi là ngũ ngôn tứ tuyệt, như bài:

    Tí Dạ tứ thời ca
    Thanh hà cái lục thủy,
    Phù dung ba hồng tiên.
    Lang kiến dục thái ngã,
    Ngã tâm dục hoài liên.

    (Lá xanh phủ nước biếc xanh
    Phù dung mơn mởn muôn cành hồng tươi.
    Chàng nhìn muốn hái em rồi,
    Lòng em vương vít bên nơi sen hồng.
    PH Anh dịch)

    - Tứ tuyệt nhạc phủ Bắc triều: khảng khái như bài:

    Chiết dương liễu ca
    Phúc trung sầu bất lạc,
    Nguyện tác lang mã tiên.
    Xuất nhập hoàn lang tí,
    Điệp tọa lang tất biên.

    (Lòng buồn bã bất an
    Nguyện làm roi ngựa chàng
    Mang trên tay xuất nhập
    Quấn quít bên gối chàng.
    Vinh Hồ dịch)



    - Tứ Tuyệt Sơ Đường (618 - 713): đã luật hóa thể tứ tuyệt thành “luật tuyệt”, phát triển thất ngôn tứ tuyệt thành “thất ngôn luật tuyệt”. Việc áp dụng niêm luật của luật thi vào tứ tuyệt, khiến tứ tuyệt Sơ Đường có thanh vận hài hòa hơn. “Tam Vương” thời Sơ Đường là Vương Tích, Vương Phạn Chí, Vương Bột mở đường phát triển về chất làm cho tứ tuyệt lời giản dị, ý sâu sắc. Trần Tử Ngang đưa thơ ca về hiện thực mở hướng mới cho tứ tuyệt. Tứ tuyệt Sơ Đường thoát ly tính chất ca từ, nội dung mang tính triết lý nhân sinh thế sự:
    Vi Thừa Khánh

    Nam hành biệt đệ
    Đạm đạm trường giang thủy,
    Du du viễn khách tình.
    Lạc hoa tương dữ hận
    Đáo địa nhất vô thanh.

    (Biệt Em Về Phương Nam
    Lênh láng trường giang thủy
    Mênh mang viễn khách tình
    Hoa rơi chia mối hận
    Chạm đất tuyệt vô thanh
    Vinh Hồ dịch)

    Vương Bột:

    Tư quy
    Trường Giang bi dĩ trệ,
    Vạn lý niệm tương qui.
    Hướng phục cao phong vãn,
    Sơn sơn hoàng diệp phi.

    (Nghĩ trở về
    Trường Giang buồn lai láng
    Muôn dặm nghĩ ngày về
    Gió thổi chiều tái tê
    Lá vàng bay trên núi.
    Vinh Hồ dịch)

    Lạc Tân Vương

    Dịch thủy tống biệt
    Thử địa biệt Yên Đan
    Tráng sĩ phát xung quan.
    Tích thời nhân dĩ một,
    Kim nhật thủy do hàn.

    (Tiễn Người Trên Sông Dịch
    Đất này biệt Yên Đan
    Tráng sĩ tóc dựng ngược
    Người xưa đã khuất rồi
    Nước sông nay lạnh buốt.
    Vinh Hồ dịch)

    Trần Tử Ngang

    Đăng U Châu Đài Ca
    Tiền bất kiến cổ nhân,
    Hậu bất kiến lai giả.
    Niệm thiên địa chi du du,
    Độc sảng nhiên nhi thế hạ.

    (Lên đài U Châu Ca
    Trước không thấy người xưa
    Sau không thấy ai cả
    Nghĩ trời đất rộng vô cùng
    Một mình lệ rơi lã chã.
    Vinh Hồ dịch)

    Hí đề tân tài tường vi
    Di căn dịch địa mạc tiều tụy
    Dã ngoại đình tiền nhất chủng xuân
    Thiếu phủ vô thê xuân tịch mịch
    Hoa khai tương nhĩ đáng phu nhân.

    (Đề bỡn cây tường vi mới trồng
    Rễ dời, đất đổi đừng tiều tụy
    Dã ngoại đình tiền cũng một xuân
    Thiếu phủ không thê xuân quạnh quẽ
    Lấy hoa nở thắm làm phu nhân.
    Vinh Hồ dịch)

    Lư Chiếu Lân

    Khúc Trì Hà
    Phù hương nhiễu khúc ngạn
    Viên ảnh phú hoa trì
    Thường khủng thu phong tảo
    Phiêu linh quân bất tri !

    (Sen Trong Ao Khúc
    Hương ngạt ngào ao khúc
    Bóng lá tròn đẹp thay!
    Ngại gió thu về sớm
    Trôi dạt người có hay?
    Vinh Hồ dịch)

    Hạ Tri Chương

    Hồi Hương Ngẫu Thư
    Thiếu tiểu ly gia , lão đại hồi
    Hương âm vô cải , mấn mao thôi
    Nhi đồng tương kiến bất tương thức
    Tiểu vấn “khách tòng hà xứ lai”

    (Ngẫu nhiên viết khi về làng
    Niên thiếu ra đi, già lão hồi
    Giọng quê không đổi, tóc sương phơi
    Thấy nhau chẳng biết nhau, trẻ vấn:
    “Khách từ đâu bước đến làng tôi?”
    Vinh Hồ dịch)

    - Tứ Tuyệt Thịnh Đường (713 - 766):

    Lý Bạch:

    Tĩnh dạ tứ
    Sàng tiền minh nguyệt quang,
    Nghi thị địa thượng sương.
    Cử đầu vọng minh nguyệt,
    Đê đầu tư cố hương.

    (Đầu giường ánh nguyệt sáng
    Ngỡ mặt đất giăng sương.
    Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
    Cúi đầu nhớ cố hương.
    Vinh Hồ dịch)

    Oán tình
    Mỹ nhân quyển châu liêm,
    Thâm tọa tần nga mi.
    Đãn kiến lệ ngân thấp,
    Bất tri tâm hận thùy.

    (Người đẹp cuốn rèm ngọc
    Ngồi im chau đôi mày
    Chỉ tay lệ vơi đầy
    Lòng giận ai không biết?
    Vinh Hồ dịch)

    Tự khiển
    Đối tửu bất giác minh,
    Lạc hoa doanh ngã y.
    Tuy khởi bộ khê nguyệt,
    Điểu hoàn nhân diệc hi

    (Rượu vào trời tối mịt không hay,
    Hoa rụng rơi trên áo ta đầy.
    Lúy túy bước đi khê nguyệt hiện
    Chim bay về tổ, người đâu đây?
    Vinh Hồ dịch)

    Liễu Tông Nguyên

    Giang tuyết
    Thiên sơn điểu phi tuyệt,
    Vạn kính nhân tung diệt,
    Cô chu thôi lạp ông,
    Độc điếu hàn giang tuyết.

    (Tuyết trên sông
    Ngàn non chim mất dấu
    Vạn nẻo không bóng người
    Thuyền đơn nón áo tơi,
    Ngồi câu sông tuyết lạnh.
    Vinh Hồ dịch)

    Trương Kế

    Phong Kiều Dạ Bạc
    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
    Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
    Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

    ( Đêm Trắng Phong Kiều
    Quạ kêu trăng lặn sương đầy trời
    Lửa chài cây bãi đối sầu ngơi
    Hàn San tự nửa đêm chuông động
    Qua Cô Tô vọng đến thuyền, người.
    Vinh Hồ dịch)

    Vương Hàn:
    Nhiều điệu hát dân gian như khúc Thượng chi hồi, Chiến thành nam, Tương tiến tửu, Hoàng tước hành, Lạc mai hoa... được nhiều người dùng để đặt tên cho tác phẩm của mình. Lương Châu Từ sau đây được sáng tác từ tên gọi của một điệu hát cổ nói về trận mạc, biên ải.

    Lương Châu Từ
    Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
    Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
    Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
    Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

    (Bồ đào mỹ tửu, chén dạ quang
    Muốn uống tỳ bà giục lên ngựa
    Đừng cười người say nằm chiến địa
    Xưa nay chinh chiến mấy ai về?
    Vinh Hồ dịch)

    Vương Duy

    Vị Thành khúc
    Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần,
    Khách xá thanh thanh liễu sắc tân.
    Khuyến quân cánh tận nhất bội tửu,
    Tây xuất Dương quan vô cố nhân.

    (Sáng sớm Vị Thành mưa bụi bay,
    Quán trọ xanh xanh sắc liễu này.
    Một chén nữa mời anh hãy cạn,
    Rời Dương Quan bạn cũ còn ai?
    Vinh Hồ dịch)

    Điểu Minh Giản
    Nhân nhàn quế hoa lạc
    Dạ tĩnh xuân sơn không
    Nguyệt xuất kinh sơn điểu
    Thời minh xuân giản trung .

    (Khe Chim Kêu
    Người nhàn, hoa quế rụng
    Đêm lặng, núi xuân yên
    Trăng lên chim núi hoảng
    Kêu vang giữa khe xuân.
    Vinh Hồ dịch)


    Trúc Lý Quán
    Độc tọa u hoàng lý
    Đàn cầm phục trường khiếu
    Thâm lâm nhân bất tri
    Minh nguyệt lai tương chiếu .

    (Quán Trúc Ly
    Một bóng bên khóm trúc
    Đàn cầm gãy khúc ca
    Rừng sâu người chẳng biết
    Trăng sáng đến cùng ta.
    Vinh Hồ dịch)

    Lộc Trại
    Không sơn bất kiến nhân
    Đản văn nhân ngữ hưởng
    Phản ảnh nhập thâm lâm
    Phục chiếu thanh đài thượng .

    (Trại Lộc
    Núi vắng không thấy người
    Chỉ nghe tiếng người nói
    Rừng thâm u nắng rọi
    Thảm rêu xanh nắng soi.
    Vinh Hồ dịch)

    Đỗ Phủ

    Tặng Hoa Khanh
    Cẩm Thành ti quản nhật phân phân,
    Bán thập giang phong bán nhập vân
    Thử khúc chỉ ứng thiên thượng hữu,
    Nhân gian năng đắc kỷ hồi văn!

    (Tặng Hoa Khanh
    Cẩm Thành đàn địch suốt đêm ngày
    Nửa theo sóng gió, nửa theo mây
    Xem ra chỉ ứng trên thiên quốc
    Trần thế ai nghe được khúc này?
    Vinh Hồ dịch)

    Vương Xương Linh

    Tống Hồ Đại
    Kinh Môn bất kham biệt,
    Huống nãi Tiêu Tương thu.
    Hà xứ dao vọng quân,
    Giang biên mình nguyệt lâu.

    (Tiễn Hồ Đại
    Kinh Môn chẳng đành biệt
    Còn gặp Thu Tiêu Tương
    Biết đứng đâu trông bạn?
    Lầu nguyệt sáng bên sông.
    Vinh Hồ dịch)

    Khuê Oán
    Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu
    Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu
    Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
    Hối giao phu tế mịch phong hầu

    (Khuê Oán
    Thiếu phụ phòng khuê chẳng biết sầu
    Ngày Xuân trang điểm bước lên lầu
    Đầu đường chợt thấy màu dương liễu
    Hối hận khuyên chồng kiếm tước hầu.
    Vinh Hồ dịch)



    Bạch Cư Dị (772 - 846)

    Dạ vũ
    Tảo cung đề phục yết
    Tàn đăng diệt hựu minh
    Cách song tri dạ vũ
    Ba tiêu tiên hữu thanh.

    (Mưa đêm
    Con dế hừng đông gáy lại ngừng
    Ngọn đèn tàn lụi bỗng sáng bừng
    Cách song biết đêm mưa rả rích
    Tàu tiêu lộp độp mãi không ngừng.
    Vinh Hồ dịch)

    Trì Thượng
    Tiểu oa sanh tiểu đỉnh
    Thâu thái bạch liên hồi
    Bất giải tang tung tích
    Phù bình nhất đạo khai

    (Trên Ao
    Cô bé bơi thuyền nhỏ
    Bông sen trắng hái về
    Hớ hênh không che dấu
    Mặt bèo hở một khe.
    Vinh Hồ dịch)

    Hàm Đan đông chí dạ tư gia
    Hàm Đan dịch lý phùng đông chí
    Bão tất đăng tiền ảnh bạn thân
    Tưởng đắc gia trung thâm dạ tọa
    Hoàn ưng thuyết trước viễn hành nhân

    (Hàm Đan đêm đông chí ở nhớ nhà
    Hàm Đan nhà trạm tiết đông chí
    Ôm gối trước đèn một bóng ta
    Tưởng đến gia trung đêm đã cạn
    Còn ngồi bàn tán nhắc người xa.
    Vinh Hồ dịch)

    Mạnh Hạo Nhiên

    Xuân hiểu
    Xuân miên bất giác hiểu
    Xứ xứ văn đề điểu
    Dạ lai phong vũ thanh
    Hoa lạc tri đa thiểu

    (Buổi sớm mùa xuân
    Xuân ngủ vùi nào hay
    Nơi nơi chim ríu rít.
    Đêm qua mưa gió lay
    Hoa rụng nhiều hay ít?
    Vinh Hồ dịch)

    9. Tâm Tình Sẻ Chia:
    Qua những bài Tứ tuyệt tiêu biểu trên của các tác giả lừng danh, có nhiều tác giả đã sống cách nay hơn nghìn năm, nhưng tâm hồn luôn đa cảm, trân trọng cái đẹp, yêu quý tình nghĩa... không khác chúng ta bây giờ. Đứng trước thiên nhiên, tình người... trái tim họ rung lên bằng lời thơ bày tỏ, ca ngợi. Họ thường sống đạm bạc, hòa mình vào thiên nhiên vũ trụ. Qua thơ, thiên nhiên gần gũi, người và thiên nhiên hòa nhập thành một, phảng phất hương vị Thiền, Đạo. Nhà thơ như đạo sĩ, Thiền sư. Trong thơ họ, thiên nhiên đẹp rực rỡ, thường bàng bạc đâu đó nỗi cô đơn, u tịch của thân phận con người hữu hạn trước trời đất vũ trụ vô cùng. Vũ trụ bao la, tình người vĩ đại, cảm xúc tràn đầy... đáng lẽ phải được viết ra trong vài ba trang giấy nhưng không, họ chỉ chấm phá cô đọng (tối đa) trong 4 câu 28 chữ, thậm chí chỉ có 20 chữ mà thâm sâu ảo diệu vô cùng! Thế mới biết Tứ Tuyệt tuyệt vời ra sao? Một thể thơ đã sống, trải qua 2 nghìn năm lịch sử, đến nay vẫn còn được nhiều người hâm mộ, vẫn còn được nhiều người chấp bút. Đặc điểm của Tứ Tuyệt là nhỏ về hình thức nhưng lớn lao về nội dung. Ý nghĩa này có lẽ đã được đề cập đến trong Kinh Duy Ma Cật: căn phòng chỉ có một trượng nhưng đã chứa hàng hà sa số chư thiên. Lão Tử cũng nói “Quý dĩ tiện vị bổn. Cao dĩ hạ vi cơ” (Quý lấy tiện làm gốc. Cao lấy thấp làm nền). Người xưa nói chỉ trong gang tấc mà có cái thế của vạn dặm. Tứ tuyệt có thể ví như một ly cà phê phin, một chậu bon-sai hay một viên ngọc. Có nhiều bài đã đạt tới 2 chữ: “thơ thần” sống mãi với thời gian.

    Đọc thơ Tứ tuyệt, yêu thơ Tứ tuyệt, làm thơ Tứ tuyệt là trở về với cội nguồn văn hóa dân tộc VN và không ngừng nỗ lực phát huy tinh hoa của nó. Suốt trên một nghìn năm, Tứ Tuyệt đã chuyên chở một phần đáng kể “tâm hồn” VN. Đẹp đẽ biết bao nhiêu!

 

 
Trang 3/3 đầuđầu 1 2 3

Quyền sử dụng

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể tự sửa bài viết của mình
  •