Follow us on...
Follow us on Twitter Follow us on Facebook Watch us on YouTube

Smartphone WIKO của Pháp chính thức xuất hiện tại Việt Nam

Tìm HD - Phần mềm tìm và xem phim HD miễn phí

Cuộc thi khoảnh khắc tuyệt vời cùng Vn-Zoom.com

Chiêm ngưỡng BaoMoi đẹp "tuyệt diệu" trên Windows Phone

Tuyển thành viên nhóm Reviews diễn đàn

VN-Zoom & ASUS đón siêu phẩm,tăng tốc chuẩn bị ASUS Expo 2014
kết quả từ 1 tới 2 trên 2
  1. #1
    longthieugiacbg's Avatar
    longthieugiacbg vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Vàng Đôi
    Tham gia
    Sep 2008
    Bài
    1.474
    Cảm ơn
    100
    Điểm
    2.864/722 bài viết
    VR power
    0

    Default ************* và ************** (1 con sông hai con người)

    Mình sưu tầm thông tin viết bài này để mọi người hiểu thêm và hai nhân vật có ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử Việt Nam. Hy vọng bài viết giúp ích được cho các bạn. Chúc các bạn học tập thật tốt. Thân.

    Thực ra gia đình hai nhân vật này cách nhau 1 con sông đó là sông Kiến Giang. Sông Kiến Giang là một nhánh của sông Nhật Lệ. Sông Kiến Giang chảy qua huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Sông dài 58 km. Đây là dòng sông của điệu Hò khoan Lệ Thủy, hàng năm vào ngày 2 tháng 9 có hội đua thuyền nổi tiếng. Đây là con sông đã chứng kiến sự sinh ra và lớn lên của những nhân vật nổi tiếng như Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Đại tướng ************** và Tổng thống Việt Nam Cộng hoà *************. Hầu hết các con sông ở Việt Nam đều chảy theo hướng đông nam, riêng con sông này chảy theo hướng đông bắc nên còn được gọi là nghịch hà. Trước đây, hàng năm con sông này gây lũ lụt cho vùng đồng bằng xung quanh do sông dốc, ngắn. Sau khi có đập An Mã ngăn ở thượng nguồn, nạn lũ lụt đã được khống chế. Tuyến Đường sắt Bắc Nam cắt qua con sông này tại Cầu Mỹ Trạch. Trong thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp, cầu Mỹ Trạch là nơi chứng kiến Thảm sát Mỹ Trạch đẫm máu, nơi dân làng Mỹ Trạch bị quân Pháp đưa ra cầu xử bắn, nơi đây ngày nay vẫn còn "Bia căm hờn" ghi lại tội ác này.


    Đánh giá về đại tướng **************


    Là một người có tài tổ chức và kiên nhẫn, ************** đã từng bước xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam từ 34 người vào tháng 12 năm 1944 thành một đội quân với hơn một triệu người năm 1975. Là một nhà chiến lược - chiến thuật bậc thầy, ông đã ******** quân đội đó giành thắng lợi trong cả hai cuộc chiến tranh. Tên tuổi của ************** gắn liền với một chiến thắng có ý nghĩa quốc tế của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong trận Điện Biên Phủ - lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa châu Á đánh bại trên chiến trường quân đội của một cường quốc châu Âu. Với hơn 50 năm tham gia hoạt động ********* ở cấp cao nhất, trong đó có 30 năm là Tổng tư lệnh quân đội, ông có uy tín lớn trong **** ******** Việt Nam, trong quân đội và trong nhân dân, được coi là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch *********** và là Người anh cả của Quân đội Nhân dân.

    Ông được cả thế giới biết đến như một trong những danh tướng của thế kỷ 20 - người đã đánh bại nhiều viên tướng quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và lần lượt đọ sức với 7 danh tướng của quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam cho tới khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi bán đảo Đông Dương sau Hiệp định Paris (1973).

    Mặc dù vậy ,những năm cuối của ông trên chính trường không hoàn toàn xứng đáng với những gì ông đã đóng góp cho Việt nam .Là một vị tướng nhưng lại cho đảm nhiệm vấn đề "Sinh đẻ có kế hoạch" và suốt cả thời gian đó ,gần như ông đã bị quên lãng . Sau này khi tướng De Catries quay lại thăm chiến trường Điện Biên Phủ ,người ta đồn nhau rằng ,bên ********* muốn đưa tướng Văn Tiến Dũng ra tiếp đón và không hề nhắc tới ông. Ngay lập tức tướng De Catries đã phản đối ,rằng người ông muốn gặp , là tướng Giáp và chính ông Giáp mới là người đã thắng ông .


    Đánh giá về *************


    Tính hiếu chiến của ông ************* thuộc loại như thế này: Đức tin của ông ta ít có tính chất từ ái của các tông đồ hơn là tính hiếu chiến tàn nhẫn của một Đại Phán quan Tây Ban Nha của Tòa án Dị giáo (Torquemada); và quan điểm của ông ta về *********** thì ít có tính chất của một tổng thống theo hiến định của một nước ******** hơn là một bạo chúa theo truyền thống quan lại phong kiến. Một người Pháp theo Công giáo khi nói chuyện với ông ta muốn nhấn mạnh về ảnh hưởng văn hóa Pháp đối với ông Diệm đã nhấn mạnh những từ như "tín ngưỡng của chúng ta", thì Diệm thản nhiên trả lời rằng: "Ông biết mà, tôi tự coi tôi như là một người Công giáo Tây Ban Nha", có nghĩa là ông ta là một đứa con tinh thần (của Giáo hội La Mã) của một đức tin hung hăng, hiếu chiến hơn là một tín đồ dễ dãi và khoan dung giống như người Pháp theo hệ phái Công giáo Gallican.Trong 10 đô la viện trợ thì 8 được dùng cho nội an chứ không dùng cho công tác chiến đấu chống du kích ******** hay cải cách ruộng đất. Diệm lo lắng về những cuộc đảo chánh hơn là ********. ...Như là hậu quả của những biện pháp ****** càng ngày càng gia tăng, sự bất mãn của quần chúng đối với Diệm cũng càng ngày càng tăng, bất kể là toan tính của Diệm dập tắt sự bất mãn này trong mọi cơ hội. Hàng triệu nông dân ở những vùng quê trở thành xa lạ đối với Diệm. Không lạ gì, hoạt động của ******** gia tăng cùng với sự bất mãn của quần chúng. Và những biện pháp ****** của Diệm cũng gia tăng theo cùng nhịp độ. Nhiều ngàn người bị nhốt vào tù

    - Quảng Bình tự hào là mảnh đất sinh ra một người con vĩ đại như đại tướng **************.
    - ************* làm hoen ố quê hương Quảng Bình chết là phải .

  2. #2
    Củ Hành's Avatar
    Củ Hành vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Vàng
    Tham gia
    Jun 2008
    Đến từ
    Bốn bể là nhà, năm châu là huynh đệ
    Bài
    921
    Cảm ơn
    138
    Điểm
    1.162/202 bài viết
    VR power
    0

    Default

    ************** (sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911) là đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã chỉ huy quân đội thắng Pháp trong trận Điện Biên Phủ. Ông được xem như là một tướng tài khi dẫn dắt thành công một quân đội nhỏ đánh bại một cường quốc.[1] Chiến thắng của quân ********* tại Điện Biên Phủ đã chấm dứt chủ nghĩa thực dân, đập tan huyền thoại bất khả chiến bại của phương Tây và thúc giục tinh thần của các lực lượng chống thực dân trên toàn thế giới.[2] Ở Việt Nam, ông được gọi là người anh cả của Quân đội nhân dân[3]
    ************** sinh ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho, con của ông Võ Quang Nghiêm (Võ Nguyên Thân). [4] Võ Quang Nghiêm là một nho sinh thi cử bất thành về làm hương sư và thầy thuốc Đông y, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, bị Pháp bắt, đưa về giam ở Huế và mất trong tù.

    Năm 1925, ************** rời trường Tiểu học Đồng Hới ở quê nhà Quảng Bình để vào Huế ôn thi vào trường Quốc học Huế (ông đỗ thứ hai sau Nguyễn Thúc Hào). Hai năm sau, ông bị đuổi học cùng với Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Phan Bôi sau khi tổ chức một cuộc bãi khóa. Ông về quê và được Nguyễn Chí Diểu giới thiệu tham gia Tân Việt Cách mạng ****, một **** theo chủ nghĩa dân tộc nhưng có màu sắc ******** thành lập năm 1924 ở miền Trung Việt Nam. Nguyễn Chí Diểu cũng giới thiệu ************** vào làm việc ở Huế, tại nhà xuất bản Quan hải tùng thư do Đào Duy Anh sáng lập và ở báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng. Tại đây, ************** bắt đầu học nghề làm báo, chuẩn bị cho giai đoạn hoạt động báo chí trong thời Mặt trận Bình dân Pháp.
    ************** và Nguyễn Thị Quang Thái

    Đầu tháng 10 năm 1930, trong sự kiện Xô Viết - Nghệ Tĩnh, ************** bị bắt và bị giam ở Nhà lao Thừa phủ (Huế), cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ Thuần Nho và các thầy giáo Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng...

    Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế đỏ của Pháp, ************** được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế. Ông ra Hà Nội, học trường Albert Sarraut và đỗ. Ông tốt nghiệp ngành luật và kinh tế ********* năm 1937.[4]

    Năm 1934, ông lấy bà Nguyễn Thị Quang Thái (1915-1943), bạn học tại Quốc học Huế và là một ******** của ông (bà cũng là em ruột của Nguyễn Thị Minh Khai).[5] Năm 1943, bà Thái chết trong nhà ngục Hỏa Lò, Hà Nội.

    Từ 1936 đến 1939, ông tham gia phong trào Mặt trận ******* Đông Dương, là sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Uỷ ban Báo chí ****** trong phong trào Đông Dương đại hội. Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo Tin tức, Dân chúng.

    Tháng 5 năm 1939, ông nhận dạy môn lịch sử tại trường tư thục Thăng Long, Hà Nội do Hoàng Minh Giám làm giám đốc nhà trường.[6]

    Ngày 3 tháng 5 năm 1940, ************** với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp ***********. Ông gia nhập **** ******** Đông Dương trong năm này và bắt đầu các hoạt động của mình trong Việt Nam Độc lập Đồng minh hội, một tổ chức chống phát-xít và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam. Ông tham gia gây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho ********* ở Cao Bằng.
    ************** và ***********

    Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của ***********, ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền ********** quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy.[1]

    Ngày 25 tháng 12 năm 1944, đội quân này đã tiến công thắng lợi hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần.

    Ngày 14 tháng 8 năm 1945, ông được bổ sung vào Ban chấp hành ********** **** ******** Đông Dương, sau đó là ủy viên Thường vụ **********, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc.

    Sau Cách mạng Tháng Tám, ************** được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong ********* lâm thời (từ ngày 28 tháng 8 đến hết năm 1945) và là Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ.

    Trong ********* Liên hiệp, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cho đến tháng 7 năm 1947 và từ tháng 7 năm 1948 trở đi).

    Cũng trong năm 1946, ông tục huyền với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng Thai Mai).

    Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Dưới sự chỉ đạo của *********** và **** ********, ông bắt đầu ******** cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài 9 năm chống lại sự trở lại của người Pháp (1945-1954) với cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân uỷ. Ông được phong hàm Đại tướng vào ngày 25 tháng 1 năm 1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948, cùng đợt có Nguyễn Bình được phong Trung tướng, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Tháng 8 năm 1948, ông là ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập.

    Từ tháng 8 năm 1945 ông là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ ********** **** ******** Đông Dương và trở thành ủy viên Bộ ********* (thay thế Ban Thường vụ **********) **** Lao động Việt Nam từ năm 1951.

    Ông là một người vận dụng chiến thuật du kích giỏi. Ông cũng là người lên kế hoạch và trực tiếp chỉ huy trận đánh Điện Biên Phủ và thắng Pháp năm 1954.
    Tướng Giáp báo cáo kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ

    Các chiến dịch ông đã tham gia với tư cách là Tư lệnh chiến dịch - Bí thư **** ủy trong kháng chiến chống Pháp:

    * Chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947)
    * Chiến dịch Biên giới (tháng 9 - 10, năm 1950)
    * Chiến dịch Trung Du (tháng 12 năm 1950)
    * Chiến dịch Đồng Bằng (tháng 5 năm 1951)
    * Chiến dịch Đông Bắc (tháng ?? năm 1951)
    * Chiến dịch Hòa Bình (tháng 12 năm 1951)
    * Chiến dịch Tây Bắc (tháng 9 năm 1952)
    * Chiến dịch Thượng Lào (tháng 4 năm 1953)
    * Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 3 - 5 năm 1954)

    Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ mang đậm việc tạo thế, tổ chức hậu cần, thay đổi chiến thuật. Sau chiến dịch này, Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam sau hơn 80 năm.

    [sửa] Sau Điện Biên Phủ
    Bìa tạp chí Time, ngày 15-5-1972

    Từ năm 1954 đến năm 1976, ************** tiếp tục giữ cương vị Ủy viên Bộ ********* - Bí thư Quân ủy **********, Tổng Tư lệnh quân đội, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông còn là Phó thủ tướng *********, sau là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (từ năm 1955 đến năm 1991).

    Trong 21 năm (1954-1975) của cuộc Chiến tranh Việt Nam, ông thực hiện nhiệm vụ xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tham gia xây dựng chiến lược chiến tranh của Việt Nam ******* ********, trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động của Quân đội Nhân dân trong chiến tranh. Ngoài ra, ông còn tham gia nhiều hoạt động **** ******** và Nhà nước khác.

    Trong một thời gian ngắn từ tháng 7 năm 1960 đến tháng 1 năm 1963 ông kiêm thêm chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước.

    Năm 1980, ông thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng vẫn tiếp tục là Ủy viên Bộ ********* (đến năm 1982) và phó Thủ tướng phụ trách Khoa học - Kỹ thuật. Người thay thế ông ở Bộ Quốc phòng là Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội, một trong những cộng sự lâu năm nhất của ông.

    Năm 1983 ông được Hội đồng Bộ trưởng phân công kiêm thêm vai trò Chủ tịch Ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch khi Ủy ban này được thành lập (cùng với một số Bộ trưởng các Bộ và Tổ chức khác làm phó)[7].

    Năm 1991, ông thôi chức ủy viên **********, phó Thủ tướng, nghỉ hưu ở tuổi 80.

    Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng (1992), 2 Huân chương ***********, Huân chương Chiến thắng hạng nhất.

    Ngày 25 tháng 8 năm 2008, Đại tướng ************** đã mừng sinh nhật thượng thọ lần thứ 97. Ông là chính khách Việt Nam sống lâu nhất tính cho đến thời điểm này (cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng mất năm 2000, thọ 94 tuổi).

    Thời gian gần đây tuy tuổi cao, sức yếu, nhưng ông vẫn quan tâm và đưa ra một số lời bình luận trên mặt báo về tình hình đất nước như có bài báo yêu cầu kiểm định và báo cáo Đại hội **** ******** X về Vụ PMU18[8], hay cuộc gặp gỡ và khuyến khích doanh nhân làm xuất khâu nông sản[9]. Vào ngày 1 tháng 11 năm 2007 ông gửi thư trong đó bày tỏ sự phản đối chủ trương xây dựng Nhà Quốc hội ở khu di tích 18 Hoàng Diệu[10]. Ông cũng có bài viết thực trạng và kiến nghị 6 vấn đề "cơ bản và cấp bách" nhằm triển khai có kết quả công cuộc đổi mới nền giáo dục và đào tạo của Việt Nam hiện nay.[11]

    [sửa] Đánh giá

    Ông Giáp đã xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam từ 34 người vào tháng 12 năm 1944 thành một đội quân với hơn một triệu người năm 1975. ông đã ******** quân đội tốt trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Tên tuổi ông gắn liền với chiến thắng trong trận Điện Biên Phủ

    Với hơn 50 năm tham gia hoạt động *********, trong đó có 30 năm là Tổng tư lệnh quân đội, ông có uy tín lớn trong **** ******** Việt Nam và trong quân đội nhân dân Việt Nam.

    Kỷ niệm 60 năm ngày phát hành số đầu tiên, Thời báo châu Á (Times Asia) đã ra số đặc biệt giới thiệu các "Anh hùng châu Á", gồm các nhân vật làm thay đổi cục diện châu lục trong những thập kỷ gần đây. Những nhân vật được giới thiệu gồm Mahatma Gandhi, Jawaharlal Nehru, Đại tướng **************, thiền sư Thích Nhất Hạnh,...[12]




  3. Có 3 thành viên cảm ơn Củ Hành cho bài viết này:
    kecatin (25-04-2012), nguyenvanlinhtqthth (04-08-2009), occho123 (23-05-2012)

 

 

Quyền sử dụng

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể tự sửa bài viết của mình
  •