Chức năng "ngủ đông" Hibernate được Microsoft trang bị cho các hệ điều hành từ Windows 2000 trở đi. Theo đó, các nội dung chứa trong bộ nhớ RAM sẽ được lưu vào ổ đĩa cứng dưới dạng một file hay một partition riêng biệt trước khi hệ thống tiến hành shutdown.


Sau đó, hệ điều hành có thể được khôi phục lại nguyên hình nguyên trạng vào thời điểm chức năng Hibernate ghi nhớ. Nhờ vậy, khi hệ thống gặp sự cố, thường là do virus hay do cài đặt một phần mềm nào đó bị xung đột phá hỏng hệ thống, bạn có thể khôi phục lại hệ thống ở tình trạng tốt nhất trước đó.Tuy nhiên, việc bật chức năng Hibernate có thể làm cho máy bị nặng và ngốn ổ đĩa cứng (file hiberfil.sys có dung lượng bằng với dung lượng RAM . Nếu RAM 1GB thì nó chiếm nửa RAM rùi).Hibernate mặc định được kích hoạt mỗi khi Windows khởi động. Nếu thấy mình không cần thiết phải chạy chức năng này, bạn có thể tạm thời disable nó đi, chừng nào cần thì gọi nó lại.Ở Windows 7, chức năng "ngủ đông" sẽ lưu nội dung chứa trong bộ nhớ RAM vào ổ đĩa cứng trước khi vào chế độ Sleep (ngủ). Nếu bộ nhớ bị "cúp" điện, nó sẽ dùng ổ đĩa cứng để đánh thức hệ thống.Giống y chang ở Windows Vista, việc tắt Hibernate trong Windows 7 khá là phức tạp.