Dành cho người mới bắt đầu: 99 mẹo tuỳ biến Windows Vista - phần 1 - VN-Zoom forum

Go Back   VN-Zoom forum > Chia sẻ kiến thức > Hệ điều hành
Đăng Ký Quên mật khẩu Hỏi/Ðáp Thành Viên Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc
 
Dành cho người mới bắt đầu: 99 mẹo tuỳ biến Windows Vista - phần 1
Gửi Ðề Tài Mới  Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 20-03-2008, 23:35   #1 (permalink)
Rìu Bạc Đôi
 
HOANG ANH's Avatar
 
Tham gia: Aug 2007
Bài: 588
Điểm: 657/293 bài viết
Default Dành cho người mới bắt đầu: 99 mẹo tuỳ biến Windows Vista - phần 1

Hãy sử dụng Windows Vista hiệu quả hơn với sự giúp đỡ của chúng tôi: 99 cách tuỳ biến Vista sẽ đem đến cho bạn tốc độ cao hơn, rút ngắn thời gian khởi động, tăng dung lượng ổ đĩa, và cắt bỏ những phần không cần thiết.

Bộ sưu tập 99 mẹo vặt này sẽ giúp chiếc PC của bạn tận dụng tối đa tiềm năng hệ điều hành mới nhất của Microsoft. Chắc chắn bạn sẽ tìm được trong bài báo này một vài cách thay đổi toàn bộ diện mạo của bạn cũng như chiếc máy tính của bạn.
Mục tiêu của Windows Vista là cách mạng hoá thế giới tin học. Hệ điều hành hiện đại nhất đến từ Microsoft sẽ đảm nhiệm nhiệm vụ khó khăn đó là tiếp bước Windows XP (cho đến giờ vẫn là hệ điều hành phổ biến nhất và thành công nhất của Microsoft) bằng cách giới thiệu rất nhiều tính năng mới. Chúng ta sẽ có hệ thống file mới thay thế NTFS già cỗi, tính năng tương tác và bảo mật chưa từng thấy, dựa trên một nền tảng có từ thời Windows XP. Nhưng một điều kỳ lạ là trong quá trình sản xuất, những tính năng này lần lượt biến mất: Microsoft File System và hàng loạt tuỳ chọn an ninh mới nhất. Cuối cùng, Microsoft Windows Vista ra đời, thay vì nắm trong tay một phép màu diệu kỳ như đã hứa, chúng ta lại nhận được một hệ điều hành chẳng tiến bộ hơn là mấy so với người tiền nhiệm của nó.
Các phản ứng ban đầu khá trái ngược, còn người dùng thì phàn nàn vì buộc phải sử dụng Vista bởi phản ứng chậm chạp, giao diện không thân thiện và tính bảo mật cẩn thận quá mức cần thiết. Cộng thêm những trục trặc đau đầu với hỗ trợ phần cứng và driver, bữa tiệc đón chào một hệ điều hành kiểu như Windows ME đã trở thành thảm hoạ. Nhưng đến giờ, khi phần lớn người dùng đã trở nên quen thuộc với các tính năng mới của Vista, họ chợt nhận ra rằng đây thực sự là một sản phẩm tuyệt vời. Nó cồng kềnh, nhưng vững chắc và được thiết kế cẩn thận. Rất nhiều tính năng vốn bị coi là yếu kém trong XP (như pre-fetching và indexing) đã trở thành những thành phần hữu dụng trong Vista.
Windows Vista đã được hơn một năm tuổi, đủ để chúng tôi tích luỹ được một vốn hiểu biết kha khá về cách lập cấu hình và tuỳ biến hệ điều hành này thành một sản phẩm tốt hơn. Sau đây sẽ giới thiệu những kiến thức này với bạn dưới dạng một bộ sưu tập gồm nhiều mẹo vặt rất dễ áp dụng để bạn cũng trở thành chủ nhân của một chiếc máy tính Vista nhanh hơn và sạch sẽ hơn.
Phần lớn những mẹo dưới đây đều nhằm tăng tốc độ phản ứng của Vista, dù trên một chiếc máy tính mới hay một chiếc máy tính cũ vừa được nâng cấp từ XP lên Vista. Bài báo này có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu của bạn, dù đó là tốc độ cao hơn, khởi động nhanh hơn, chơi game tốt hơn, hay thời gian sử dụng pin lâu hơn (cho laptop).
Chú ý: Các mẹo dưới đây có thể được áp dụng cho bất kỳ phiên bản Vista nào: từ Home Basic cho tới Ultimate, 32-bit và 64-bit, chỉ trừ một số mẹo như đối với giao diện Aeroglass và Vista Media Center, chúng tôi sẽ có chú thích rõ ở mỗi phần. Ngoài ra còn một số mẹo dành riêng cho laptop Vista và một số mẹo chơi game.
Nào, hãy bắt đầu!
Chuẩn bị hệ thống
Chuẩn bị trước không bao giờ là thừa cả. Những mẹo sau đây sẽ chỉ cho bạn cách sao lưu dự phòng và phục hồi các thiết lập Windows Vista cơ bản để chuẩn bị cho chuyến du ngoạn sắp tới.
1. Sao lưu dự phòng và khôi phục Registry của Vista
Sau đây là cách biến đổi Registry Vista, một tập hợp những thiết lập và thông tin cấu hình mà bạn không thể truy cập được qua giao diện Vista chính thức. Hành động này có thể dẫn đến hậu quả thảm khốc nếu bạn thay đổi sai giá trị, vì thế đầu tiên bạn nên sao lưu toàn bộ Registry, để có thể phục hồi dữ liệu nếu bạn có lỡ thay đổi sai giá trị nào.
Cách sao lưu dự phòng đăng ký Vista:
Mở menu 'start' và gõ 'regedit' trong ô tìm kiếm. Bấm Enter.
Đánh dấu 'computer’ bên tay trái.
Vào 'file\export'.
Chọn một vị trí trên máy tính để lưu file sao lưu đăng ký. Tốt nhất là bạn nên lưu nó vào các phương tiện lưu trữ di động như ổ USB, hoặc trên một đĩa vật lý rời trong thư mục Windows. Đặt cho nó một cái tên như 'registrybackup08'.
Để nhập hình ảnh Registry (và xoá tất cả các thay đổi đã thực hiện), bạn cần thực hiện lại các bước trên: mở regedit, rồi vào 'file\import' để tải file vừa tạo.
2. Chỉnh sửa Registry trong Windows Vista
Sau khi đã sao lưu Registry, chúng ta cần thay đổi nó một chút. Như đã nói ở trên, để thực hiện một số mẹo, bạn cần biên tập lại đăng ký, vì thế tốt nhất bạn nên làm quen với cách thực hiện việc đó ngay từ lúc này.
Cách biên tập Registry trong Windows Vista:
Mở menu 'start' và gõ 'regedit' vào ô tìm kiếm. Nhấn Enter.
Sau khi khởi động Regedit, chúng ta có thể thực hiện mọi mẹo vặt yêu cầu chỉnh sửa đăng ký. Để tìm được Regedit, bạn có thể sử dụng thư mục bên trái.
Các folder trong phần này được gọi là ‘key’. Trong mỗi key lại có các key phụ và một nhóm giá trị quy định chức năng của Vista. Chúng ta sẽ tạo cả key và giá trị của key mới.
Để tạo key của Registry mới:
Nhấn chuột phải vào một vùng trống bên tay phải và chọn 'new/key'. Đặt cho key vừa tạo một cái tên tương ứng với mẹo sẽ áp dụng. Không cần lưu gì hết bởi mọi thay đổi trong đăng ký sẽ được lưu lại.
Để tạo giá trị Registry mới: :
Mặc dù bạn có thể tạo nhiều loại giá trị đăng ký khác nhau, nhưng trong bài báo này bạn chỉ cần tạo một giá trị duy nhất là DWORD. Để thực hiện việc này, bạn cần tìm key và key phụ tương tứng, bấm chuột phải trong phần để trống bên tay phải và chọn 'new/DWORD value'.
Đặt tên cho giá trị vừa tạo, click 'ok', rồi nhấn đúp vào giá trị DWORD vừa tạo để thay đổi nó. Nhập lại giá trị tương ứng rồi nhấn 'ok.'
3. Tạo điểm phục hồi hệ thống ( System Restore Point ) trong Windows Vista
Cũng như XP, Vista có cung cấp tính năng phục hồi hệ thống rất hữu dụng. Trong điều kiện lý tưởng, tính năng này cho phép bạn đưa toàn bộ hệ điều hành (trừ các dữ liệu cá nhân) về một thời điểm trước đó để xoá bỏ mọi hỏng hóc do chương trình lỗi hoặc các thay đổi không hợp lý gây ra cho hệ thống. Trước khi tiếp tục, chúng ta nên tạo thử một điểm phục hồi và tìm hiểu cách đưa hệ điều hành quay ngược thời gian.
Cách tạo điểm phục hồi hệ thống::
Mở menu 'start', click chuột phải lên 'computer', chọn 'properties'
Từ bảng tasks bên trái, nhấn 'System Protection'.
Bấm phím 'create' để chọn cho thời điểm phục hồi một cái tên như 'system before tweaks' và nhấn 'create'.
Để khôi phục Windows Vista về điểm phục hồi:
Mở menu 'start', gõ 'system restore.'
Bấm 'next'.
Chọn điểm khôi phục mong muốn bằng cách đánh dấu thời điểm đó và nhấn 'next'.
Sau khi lưu lại tất cả cá văn bản, nhấn 'finish'. Hệ thống sẽ khởi động lại và quay về thiết lập ở thời điểm phục hồi.
(Còn nữa)
Hiện đang vắng mặt   Trả Lời Với Trích Dẫn
Thành viên đã cám ơn bài viết này của HOANG ANH:
bpbinhut (29-03-2008)
Old 20-03-2008, 23:37   #2 (permalink)
Rìu Bạc Đôi
 
HOANG ANH's Avatar
 
Tham gia: Aug 2007
Bài: 588
Điểm: 657/293 bài viết
Default Dành cho người mới bắt đầu: 99 mẹo tuỳ biến Windows Vista - phần 2

Chuẩn bị phần cứng

Chắc hẳn bạn cũng biết hệ điều hành Microsoft Windows Vista là một mỏ tài nguyên thực sự. Cho dù bạn có đánh giá Vista như thế nào chăng nữa, thì thực tế vẫn là hệ điều hành này rất ưa thích các thiết bị phần cứng tốc độ cao. Một vài mẹo vặt dưới đây sẽ giúp bạn cải thiện phần cứng của mình để khai thác Windows Vista tốt hơn nữa.

4. Bổ sung thêm bộ nhớ (RAM)
Có vẻ như đây là một điều hiển nhiên, nhưng thực tế lại không phải như vậy. Hầu hết những ai mới làm quen với máy tính và muốn tăng tốc bộ máy của mình đều nhận được lời khuyên này. Nhưng thực ra trong Windows XP và các hệ điều hành trước đó, lời khuyên này sai một cách cơ bản.
Mặc dù khoảng cách về tốc độ giữa 1GB và 2-4GB bộ nhớ trong Windows XP hầu như không đáng kể, nhưng trong Windows Vista, mọi sự thay đổi trong RAM đều được khai thác tối đa bởi hệ điều hành này tận dụng tài nguyên tốt hơn nhiều. Tuy Windows Vista 32 bit chỉ sử dụng được tối đa ~3.2GB bộ nhớ, nhưng với mỗi GB bộ nhớ bạn thêm vào dưới giới hạn này, bạn sẽ nhận thấy sự thay đổi rất rõ về tốc độ.
Tại thời điểm viết bài báo này, bộ nhớ DDR2 được bán với giá dưới $25/GB, nên có lẽ đây chính là thông tin có giá trị nhất mà bài báo này cung cấp cho bạn. Bạn nên sử dụng ít nhất 2GB RAM để khai thác tối đa Windows Vista, cho dù đó là DDR, DDR2 hay DDR3. Còn nếu bạn là một game thủ thì 4GB RAM là một lựa chọn tốt.
5. Cập nhật BIOS bo mạch chủ
Trước khi nâng cấp lên hệ điều hành mới, nhất là một hệ điều hành yêu cầu khắt khe như Vista, bạn cần đảm bảo rằng chương trình cơ sở của mình luôn được cập nhật đầy đủ. Do đó, bạn cần kiểm tra toàn bộ các bản cập nhật BIOS bo mạch chủ sẵn có.
6. Cập nhật driver phần cứng
Windows Vista là một sản phẩm còn khá mới, vì thế driver phần cứng (chương trình gắn kết Windows với phần cứng máy tính của bạn) vẫn đang trong quá trình phát triển. Nếu đã lâu bạn chưa cập nhật driver, bạn nên truy cập website nhà sản xuất bo mạch chủ, card video và card âm thanh (nếu cần) để có được các driver thành phần mới nhất cho Vista, đặc biệt nếu thời điểm bạn mua máy tính gần với ngày phát hành Vista năm ngoái, bởi kể từ đó đến giờ, driver ổ cứng đã có những bước tiến và một số thay đổi đang kể về tốc độ và tính ổn định. Trong thực tế, nhiều vấn đề người dùng gặp phải trong Vista chính là do các driver kiểu cũ gây ra, hoặc nhiều khi là driver của WinXP được dùng cho Vista.
7. Kiểm tra RAM
Bạn nên kiểm tra bộ nhớ định kỳ, nhất là khi bạn vừa mới cài đặt Vista, hoặc nếu bạn gặp vấn đề về tốc độ hoặc tính ổn định với hệ điều hành này.
May là Vista có cung cấp một ứng dụng kiểm tra bộ nhớ tích hợp có khả năng đảm nhiệm công việc này khá tốt. Trước hết, bạn cần khởi động lại và để yên máy tính khoảng 30 phút.
Cách kiểm tra bộ nhớ máy tính với Windows Memory Diagnostics:
Mở menu 'start' rồi gõ ‘memory’ vào thanh tìm kiếm rối nhấn Enter.
Chọn 'restart now and check for problems' .
Máy tính sẽ khởi động lại và tiến hành kiểm tra toàn bộ bộ nhớ.
8. Tối ưu hoá timings và điện áp bộ nhớ
Bạn có thể còn ngần ngừ chưa muốn overclock hệ thống, nhưng để có được tốc độ bộ nhớ cao nhất có thể, bạn nên tối ưu hoá timings thời gian trễ của bộ nhớ máy tính.
Nói một cách đơn giản, timings bộ nhớ là một tập hợp các khoảng thế giới chờ mà mỗi module bộ nhớ phải trải qua trong quá tình truyền dữ liệu ra vào máy tính. Những góc trễ đã được lập trình giúp đảm bảo rằng dữ liệu có thể được ghi và đọc theo thứ tự. Góc trễ càng ngắn chứng tỏ bộ nhớ gửi được nhiều dữ liệu hơn trong một khoảng thời gian nhất định, đồng nghĩa với việc tốc độ chung tăng lên.
9. Overclock bộ xử lý và bộ nhớ
Hệ thống máy tính là phương tiện để bạn trải nghiệm Windows Vista, vậy tại sao không giúp chiếc máy này chạy nhanh hết mức có thể? Đúng là có một số lý do khiến bạn không muốn thực hiện điều này (tính phức tạp và độ ổn định của hệ thống là hai nguyên nhân chủ yếuu), nhưng với các máy tính hiện đại, việc overclock một chút sẽ không gây hại gì cho máy tính của bạn, đồng thời đem lại cho bạn lợi thế về tốc độ trong game và nhiều ứng dụng khác nữa.
10. Overclock card video
Nếu chơi game là ưu tiên số một của bạn, thì mẹo vặt này hẳn sẽ làm bạn thích thú. Cũng như với bộ xử lý và bộ nhớ, việc overclock card video sẽ giúp nó có tốc độ cao hơn và thực hiện được nhiều việc hơn trong một khoảng thời gian xác định. Card video nhanh hơn = chơi game tốt hơn. Cũng như các kiểu overclock khác, không có gì đảm bảo trong việc này, vì thế hãy tiến hành cẩn thận và từ từ hét mức có thể. Một chiếc card được overclock hợp lý sẽ giúp tăng tốc độ game DX10 lên đáng kể. Nhưng cần chú ý rằng việc này không có tác dụng mấy với giao diện Aeroglass 3D. Nếu card video của bạn gặp vấn đề với Aeroglass, thì việc tăng tốc độ lên chút xíu sẽ chẳng ích gì. Còn nếu tốc độ trong Aeroglass đã là quá ổn với bạn, thì việc tăng tốc độ sẽ không cải thiện được gì nhiều.
(Còn nữa)

Hiện đang vắng mặt   Trả Lời Với Trích Dẫn
Thành viên đã cám ơn bài viết này của HOANG ANH:
bpbinhut (29-03-2008)
Old 20-03-2008, 23:39   #3 (permalink)
Rìu Bạc Đôi
 
HOANG ANH's Avatar
 
Tham gia: Aug 2007
Bài: 588
Điểm: 657/293 bài viết
Default Dành cho người mới bắt đầu: 99 mẹo tuỳ biến Windows Vista - phần 3

Giờ đây, khi đã hoàn thành xong những bước đi cơ bản, chúng ta sẽ đến với 10 thay đổi cơ bản đầu tiên cần thiết nhất. Đây là những cải tiến sẽ khiến Vista trở thành một hệ điều hành dễ chịu hơn, đặc biệt nếu như bạn tự cho mình là một người dùng máy tính ở mức trung – cao cấp.

Các thay đổi thiết yếu:
11. Tắt User Account Control (UAC)
Quản lý tài khoản người dùng (UAC) chắc hẳn là chức năng bị chê bai, hiểu lầm và ghét bỏ nhiều nhất trong số các tính năng mới của Windows Vista. Nhưng chức năng này nghĩa là gì? Chắc bạn có biết mấy ô yes/no cứ hiện ra khi bạn cố cài một phần mềm nào đó, hoặc xem chương trình quản lý thiết bị, hay làm bất cứ việc gì mà Vista cho rằng thuộc về mức ‘quản lý’? Đó chính là UAC đấy.
Mục đích của chức năng này là ngăn cản bất cứ thay đổi trái phép nào đối với thiết lập hệ thống Windows bằng cách buộc bạn phải trả lời ‘ok’ một cách thủ công đối với mọi thay đổi dù là nhỏ nhất. Ngoài ra nó còn có nhiệm vụ khác là làm bạn phát bực mình, nhất là đôi khi cửa sổ popup không hiện ra khiến bạn cứ thắc mắc tại sao việc cài đặt của mình lại bị đông cứng.
May mắn thay, bạn có thể dễ dàng vô hiệu hoá UAC, mặc dù như thế đồng nghĩa với việc tước đi một lớp vỏ bảo vệ bên ngoài giúp Vista chống lại virus và malware. Tuy việc vô hiệu hoá UAC khiến mức độ an ninh hệ thống quay trở về thời kỳ XP, nhưng bù lại nó giúp Vista trở nên dễ sử dụng hơn nhiều. Nhưng nếu bạn là người mới làm quen với máy tính, bạn vẫn nên kích hoạt UAC. Đối với những người còn lại, sau đây là cách để bạn tắt UAC trong Windows Vista:
Vào start/control panel/user accounts and family safety/user accounts.
Bấm 'turn user account control on or off' và chọn 'continue' khi ô UAC xuất hiện.
Bỏ dấu tích tại ô 'use user account control (UAC) to help protect your computer'.
Bấm 'ok'. Vista sẽ khởi động lại, và kể từ đây bạn sẽ thoát khỏi chức năng khó chịu này.
Chú ý rằng việc vô hiệu hoá UAC chỉ có tác dụng đối với người dùng hiện tại.
12. Đặt Set Automatic Updates chỉ cho việc download
Theo mặc định, Windows Vista sẽ tự động download và cài đặt tất cả các miếng vá và bản cập nhật mà Microsoft cho là cần thiết. Quá trình này thường khiến hệ điều hành tự động khởi động lại, tuy bạn có thể ngăn chặn việc này bằng bàn phím, nhưng trong trường hợp ngược lại, nó sẽ làm tắc nghẽn đường truyền của bạn.
Một cách khác tốt hơn đó là cho phép Vista tự động download bản vá lỗi, nhưng phải có sự đồng ý của bạn trước khi cài đặt chúng và khởi động lại máy tính.
Cách cài đặt chế độ cài đặt bản cập nhật bằng tay:
Vào 'start/control panel/security/turn automatic updating on or off'
Chọn 'download updates but let me choose whether to install them'.
Bấm 'OK'
Windows Vista sẽ thông báo cho bạn mỗi khi có bản cập nhật mới thông qua một biểu tượng trên taskbar, nhưng sẽ chỉ cài đặt nếu được sự cho phép. Nếu cài đặt bản vá, bạn sẽ được quyền scan chúng trước để xoá bỏ những phần mà bạn cảm thấy không cần thiết.
13. Biến thanh tìm kiếm thành lệnh Run.
Đây là một mẹo cơ bản trong việc sử dụng Windows Vista, vì thế nếu bạn chưa biết cách thực hiện nó, hãy chú ý thật kỹ. Thanh tìm kiếm thực sự là người bạn đường hữu ích.
Việc thiếu vắng nhiều tuỳ chọn và một lệnh Run có thể khiến nhiều người mới làm quen với Vista cảm thấy bỡ ngỡ, nhưng hãy yên tâm, thanh tìm kiếm sẽ bù đắp cho những thay đổi khác trong menu start. Theo mặc định, thanh tìm kiếm sẽ kiểm tra tất cả các folder cá nhân, file chương trình, thư mục Windows, Email và Internet history mỗi lần bạn nhập vào giá trị nào đó.
Vậy điều này có nghĩa là gì? Nó đồng nghĩa với việc toàn bộ những văn bản bạn mới tạo, tất cả các trang web bạn mới ghé thăm và mọi chương trình bạn vừa cài đặt sẽ có thể truy cập chỉ với vài phím đơn giản.
Bạn cứ thử thì biết: Nhấn phím Windows, gõ mail và nhấn Enter. Tiện lợi quá phải không? Tiếp theo hãy thử với 'cmd'. Bạn vẫn chưa có lệnh Run? Thực ra không phải như vậy. Sau khi bạn thêm những trang như Hotmail hay Gmail vào danh sách favourites, bạn có thể truy cập chúng trực tiếp từ thanh tìm kiếm theo cách y hệt.
14. Vô hiệu hoá công cụ tìm kiếm và cài đặt tự động
Theo mặc định, công cụ cập nhật của Windows Vista sẽ tìm kiếm và download driver cho phần cứng. Vấn đề là ở chỗ: những driver mà nó tìm được (và tự động cài đặt nếu bạn chưa vô hiệu hoá lựa chọn này như trong mẹo số 12) thường không phải là lựa chọn tốt nhất cho phần cứng, thậm chí có thể gây rắc rối trong một số trường hợp.
Theo tôi, tốt nhất là bạn nên vô hiệu hoá chức năng cập nhật driver tự động và nên cập nhật driver theo cách thủ công khi cần thiết.
Cách vô hiệu hoá chức năng cập nhật driver tự động:
Mở menu 'start' và bấm chuột phải lên 'computer'. Chọn 'properties'.
Bấm 'advanced system settings' ở phần bên trái.
Chọn tab 'hardware' và bấm 'Windows update driver settings'.
Chọn 'never check for drivers when I connect a device'.
Bấm 'ok'.
15. Dùng Windows Defender để vô hiệu các chương trình tự khởi động (startup)
Windows Defender là một tiện ích trong Windows Vista, vốn được coi là ứng dụng chống spyware tích hợp của Microsoft, và nó đã thực hiện rất tốt công việc của mình. Ngoài ra Defender còn có một số tính năng đặc biệt khác, bao gồm khả năng quản lý và vô hiệu các chương trình startup. Chẳng có gì khiến một chiếc máy tính trở nên chậm chạp hơn là vài tá ứng dụng sẵn sàng khởi động khi bật Windows và rồi nằm im lìm trên taskbar, vì thế bạn nên học cách sử dụng Defender để dọn dẹp mấy tên ăn bám khó chịu này.
Cách vô hiệu ứng dụng startup bằng Windows Defender:
Vào 'start/all programs' rồi chạy 'Windows Defender' như kiểu Administrator .
Bấm vào biểu tượng 'tools' trên góc màn hình.
Nhấn vào 'software explorer'.
Phần bên trái sẽ liệt kê những chương trình tự khởi động mỗi khi máy tính bắt đầu chạy và phân loại chúng theo tên công ty sản xuất. Bạn có thể bấm lên từng chương trình để biết được nhiều thông tin về nó trên phần bên phải.
Chú ý đến các phím 'remove', 'disable''enable' ở góc phải.
Khi bạn ‘remove’ một ứng dụng, nó sẽ bị loại ra khỏi danh sách startup (không phải ra khỏi máy tính). ‘Disable’ ứng dụng sẽ ngăn không cho nó khởi động cùng lúc với máy tính, còn phím 'enable' sẽ kích hoạt lại những chương trình đã bị ‘disable’.
Theo tôi, bạn không nên vô hiệu hoá bất kỳ ứng dụng nào của Microsoft ngoài sidebar.
16. Đặt tuỳ chọn Power ở mức tốc độ cao
Theo mặc định, Windows Vista sử dụng một số thiết lập năng lượng khá dè dặt, tốt cho laptop hoặc cho môi trường, nhưng không tốt lắm cho bạn nếu bạn muốn chiếc máy tính của mình chạy với tốc độ tối đa. Để khắc phục điều này Microsoft đã bổ sung chọn lựa tiêu chuẩn 'high performance' vào control panel. Tuỳ chọn này có khả năng vô hiệu tất cả các tính năng tiết kiệm điện (ổ cứng sẽ tự động quay chậm lại nếu không được truy cập trong vòng 20 phút), cho phép máy tính của bạn khai thác năng lượng tối đa.
Để đặt chuyển Vista sang mức 'high performance':
Vào 'start/control panel'
Bấm mục 'classic view' bên tay trái.
Mở ‘power options'.
Chọn mức 'high performance'.
(Còn nữa)
Hiện đang vắng mặt   Trả Lời Với Trích Dẫn
Thành viên đã cám ơn bài viết này của HOANG ANH:
bpbinhut (29-03-2008)
Old 20-03-2008, 23:42   #4 (permalink)
Rìu Bạc Đôi
 
HOANG ANH's Avatar
 
Tham gia: Aug 2007
Bài: 588
Điểm: 657/293 bài viết
Default Dành cho người mới bắt đầu: 99 mẹo tuỳ biến Windows Vista - phần 4

Các mẹo khởi động cơ bản.

17. Kích hoạt DVD trong Vista Basic và Vista Business
Bạn không thể chơi dược DVD trong Windows Vista? Thật không may là tất cả các phiên bản Microsoft Windows Vista đều không hỗ trợ DVD playback; chỉ có Vista Ultimate và Home Premium là có codec MPEG/2. Còn máy tính để bàn và máy tính xách tay chạy Vista Business hoặc Vista Home Basic đều chiếu phần mềm quan trọng này, khiến chúng không thể chạy được DVD.
Đối với những người mới dùng Vista, sẽ chẳng có gì kinh khủng hơn việc bạn bật một đĩa DVD lên và được đón chào bằng mmột màn hình trống trơn, dù có sử dụng Windows Media Player 11 (WMP11), PowerDVD, hay VLC. May mắn thay, cách khắc phục việc này chẳng có gì khó khăn.
Thường thì việc “nâng cấp lên Vista Ultimate” hoặc “giảm độ phân giải màn hình” trong Vista Business / Home Basic chẳng có tác dụng gì cả. Bạn không cần phải nâng cấp toàn bộ hệ điều hành chỉ để xem một bộ phim, còn kích cỡ màn hình thì chẳng liên quan gì. Cách giải quyết thực ra đơn giản hơn nhiều, và bạn cũng không cần trả $15 hay $50 để bổ sung tính năng này. Tất cả những gì bạn cần làm là download một gói codec miễn phí cho phép Windows đọc đĩa DVD (và cả DivX).
Theo kinh nghiệm của tôi, bạn nên dùng gói codec K-Lite hoặc đơn giản là tìm kiếm trên Google. đáp ứng tất cả các nhu cầu về DVD của bạn, cùng với rất nhiều codec khác. Đầu tiên, bạn cần download K-Lite từ đường link trên, cài đặt theo mặc định hoặc chỉ chọn codec bạn cần, rồi khởi động lại media player. Kể từ giờ phút này, bạn đã có thể yên tâm xem DVD trên Windows Vista.
Về bản chất, codec cũng như driver đối với file media. Cho dù bạn chọn ứng dụng nào để chơi hoặc biên tập DVD, nó cũng cần truy cập file codec phù hợp, và nếu thiếu chúng thì ngay cả một chương trình đa năng như VideoLAN VLC cũng chịu chết.
Nếu bạn đang chạy Windows Vista X64 Business với Windows Media Player 11 phiên bản 64 bit, bạn cần dùng K-Lite Codec Pack 64-bit Add-on 1.2.0. Bạn có thể download nó trong Betanews.com.
18. Biến Windows Media Player 11 64-bit thành trình chơi nhạc mặc định trong Windows Vista x64
Có thể người dùng Windows Vista x64 sẽ muốn thực hiện thêm bước này bởi Windows Vista 64 bit sử dụng mặc định bản Windows Media Player 11 32 bit để đảm bảo tính tương thích file và media. Nếu bạn muốn đặt bản Windows Media Player 11 64 bit làm trình chơi nhạc mặc định WMP cho 64-bit Vista, bạn cần điều hướng lại một số shortcut của chương trình.
WMP11 32 bit nằm trong folder '.../ProgramFiles(x86)/', còn WMP11 64 bit nằm trong '.../ProgramFiles/'.
Để đặt hệ điều hành Vista x64 sử dụng mặc dịnh bản Windows Media Player 11 64 bit:
Vào Start (biểu tượng Vista nằm ở góc dưới bên trái) > rồi sử dụng một trong số những lệnh sau (không có dấu ngoặc kép)…
Để đặt WMP11 64 bit làm trình chơi nhạc tiêu chuẩn: "unregmp2.exe /SwapTo:64"
Để chuyển lại WMP11 32 bit làm trình chơi nhạc tiêu chuẩn: "unregmp2.exe /SwapTo:32"
Kể từ đây, Windows Vista x64 sẽ tự động chơi DVD trên phiên bản Windows Media player 11 64 bit. Còn nếu lệnh SwapTo không có tác dụng, bạn có thể dùng đến tập lệnh cao cấp hơn .
19. Nâng cấp Vista!
Hãy giữ cho Vista của bạn luôn hợp thời bằng những bản vá mà Microsoft đã giới thiệu kể từ khi phát hành Vista, giúp sắp xếp lại các chức năng trong hệ điều hành hoặc lấp lỗ hổng an ninh. Nếu muốn khai thác tối đa Vista, bạn cần giữ cho nó luôn tươi mới.
Để cập nhật Vista, chỉ cần mở menu 'start’ rồi gõ 'update' trong thanh tìm kiếm.
20. Chạy chương trình với quyền administrator
Microsoft có bổ sung thêm một lớp bảo vệ cho Windows Vista bằng cách quy định các tài khoản người dùng tiêu chuẩn không có quyền quản lý toàn bộ. Điều này giúp bảo vệ hệ điều hành bởi nó khiến người dùng không thể dễ dàng thay đổi một số thiết lập hệ thống, nhưng nó cũng đồng thời gây khó dễ cho họ. May là bạn có thể dễ dàng giải quyết vấn đề này. Nếu bạn là một chuyên gia về Vista, điều này là quá dễ dàng đối với bạn, còn nếu bạn chỉ mới làm quen với Vista, bạn cần thực hiện tổng hợp nhiều mẹo khác nhau:
Cách chạy chương trình với quyền Administrator:
Gõ tên chương trình vào thanh tìm kiếm trong menu 'start'.
Bấm chuột phải lên biểu tượng chương trình trong phần kết quả tìm kiếm và chọn 'run as administrator.'
Cách tăng tốc độ Vista
Bây giờ chúng ta sẽ đến với trọng tâm của bài báo này. Các mẹo dưới đây sẽ giúp bạn tăng tốc Vista bằng cách thay đổi thiết lập mặc định hệ điều hành.
21. Vô hiệu indexing tìm kiếm
Chức năng indexing đã mạnh lên rất nhiều trong Windows Vista so với trong Windows XP, và càng trở nên hữu ích hơn nhiều với sự hiện diện của thanh tìm kiếm. Tuy vậy, nó không phải là một chương trình thiết yếu và chiếm rất nhiều tài nguyên bộ nhớ và ổ cứng. Việc vô hiệu chức năng này không xoá chức năng tìm kiếm, nhưng sẽ khiến quá trình tìm kiếm chậm lại một chút. Bù lại, nó giúp tăng tốc toàn bộ hệ thống của bạn.
Cách vô hiệu chức năng Indexing Windows Vista:
Mở menu 'start', gõ 'services' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter.
Trong cửa sổ chương trình, nhấn chuột phải vào 'windows search' và chọn 'properties'.
Trong ô 'startup type', chuyển sang 'disabled', bấm phím 'stop' bên dưới để dừng chức năng. Nhấn ‘ok.’
22. Giới hạn tuỳ chọn tìm kiếm menu khởi động
Sau khi đã làm quen với thanh tìm kiếm trong menu khởi động, bạn sẽ thấy đây là một cách làm đơn giản đến mức khó tin để tìm kiếm và khởi động chương trình, file và nhiều thứ khác. Tuy vậy, nó có thể gặp một số vấn đề về tốc độ nếu lượng dữ liệu trong Vista tăng lên. Ngoài ra, nó có thể gây ra nhiều kết quả koi mong muốn. Vì thế bạn nên điều chỉnh thanh tìm kiếm để sắp xếp và tăng tốc độ tìm kiếm:
Cách thay đổi tuỳ chọn trong thanh tìm kiếm menu start:
Nhấn chuột phải vào phím 'start' và chọn 'properties.'
Nhấn phím 'customize'.
Chọn 'search'.
5 lựa chọn tiếp theo có nhiệm vụ quản lý chức năng thanh tìm kiếm:
'Search': tốt nhất là bạn nên kích hoạt chức năng này (trừ khi bạn chúa ghét việc tìm kiếm).
'Search communications': giúp tìm địa chỉ Windows mail. Còn nếu bạn không dùng Windows mail hoặc không muốn khởi động email từ menu start, bạn có thể vô hiệu chức năng này.
'Search favourites and history'sẽ kiểm tra Internet Explorer 7 để tìm các trang web ưa thích hoặc các website vừa được ghé thăm. Nếu bạn dùng Firefox hay muốn giữ tính bảo mật, bạn nên vô hiệu chức năng này, mặc dù nó rất có ích cho việc việc tìm kiếm trang web ưa thích của bạn.
'Search files'có ba thiết lập: theo mặc định nó sẽ chỉ tìm kiếm tất cả các file trong thư mục người dùng. Nhưng bạn cũng có thể điều chỉnh nó tìm kiếm tất cả những file indexed trên máy tính, hoặc vô hiệu hoá nó hoàn toàn để đạt tốc độ cao nhất.
'Search programs'cho phép kích hoạt và vô hiệu chương trình. Theo tôi, bạn nên để nguyên chức năng này, nếu không các nhà phát triển của Microsoft sẽ rất thất vọng (mặc dù điều này khá là có ích).
23. Gỡ tính năng “giảm bớt sự chênh lệch” từ xa
Chức năng “giảm bớt sự chênh lệch” từ xa trong Vista được thiết kế để sắp xếp quá trình chuyển file từ xa bằng cách quản lý sự thay đổi file và chỉ chuyển các phần file đã được thay đổi, thay vì toàn bộ file. Thật là một tính năng tuyệt vời cho các văn phòng chuyên tích trữ và truy cập ổ đĩa mạng lưới, nhưng lại không có ích mấy đối với người dùng gia đình, nhất là khi chức năng này làm giảm tốc độ hệ thống.
Cách gỡ tính năng”giảm bớt sự chênh lệch” từ xa:
Vào 'start/control panel/programs/uninstall a program'.
Trong sidebar, bấm 'turn windows features on and off'
Xoá 'remote differential compression' và bấm 'ok.'
(Còn nữa)


Hiện đang vắng mặt   Trả Lời Với Trích Dẫn
Thành viên đã cám ơn bài viết này của HOANG ANH:
bpbinhut (29-03-2008)
Old 21-03-2008, 11:46   #5 (permalink)
Rìu Bạc Đôi
 
HOANG ANH's Avatar
 
Tham gia: Aug 2007
Bài: 588
Điểm: 657/293 bài viết
Default Dành cho người mới bắt đầu: 99 mẹo tuỳ biến Windows Vista - phần 5

Tăng tốc Vista:

24. Tăng tốc ổ đĩa ngoài
Nếu bạn dùng ổ cứng ngoài làm khu lưu trữ thứ cấp cho chiếc máy tính Vista của mình, hay nếu bạn thường xuyên dùng ổ USB để chuyển file cỡ lớn, bạn sẽ thấy mẹo này rất hữu ích. Khi thay đổi cách Vista ghi dữ liệu lên thiết bị lưu trữ USB, chúng ta có thể tăng đáng kể tốc độ truy cập và chuyển file của thiết bị này.
Theo mặc định, Windows không dùng cache ghi với ổ USB, tức là mọi dữ liệu bạn gửi đến ổ đều được chuyển sang thiết bị ngay lập tức. Cache ghi đóng vai trò làm vùng đệm giữa ổ cứng cơ học chậm chạp và bộ nhớ hệ thống tốc độ cao. Nói một cách đơn giản, máy tính sẽ ghi dữ liệu lên cache (một khu vực bộ nhớ), sau đó cache sẽ chuyển dữ liệu đến ổ để hệ thống của bạn rảnh tay làm những việc khác.
Bằng cách kích hoạt cache ghi trên ổ USB, bạn có thể đẩy cao tốc độ ổ đĩa ngoài. Nhưng cần chú ý rằng tốc độ bộ nhớ flash sẽ không là bao.
Cách kích hoạt cache ghi trên ổ đĩa ngoài:
Cắm ổ USB vào máy, nhấn 'start\computer.'
Nhấn chuột phải vào ổ đĩa ngoài trong cửa sổ computer và chọn 'properties.'
Bấm tab 'hardware'.
Đưa chuột vào ổ đĩa ngoài trong dánh sách và nhấn phím 'properties'.
Chọn tab 'policies'.
Chọn 'optimize for performance’ rồi nhấn ok.
Chú ý: Để bảo vệ dữ liệu, từ giờ bạn sẽ phải dùng đến biểu tượng 'safely remove hardware' trong taskbar mỗi khi cần rút ổ đĩa ngoài ra. Còn nếu bạn chỉ Shutdown thì không cần thiết.
25. Kích hoạt Readyboost trên bộ nhớ flash
Nếu để ý một chút, bạn sẽ thấy rằng chúng tôi không đưa Readyboost vào nhóm các phương pháp tăng tốc độ. Đó là bởi chúng tôi đã kiểm tra kỹ tính năng này và rút ra kết luận rằng nó chỉ giúp tăng tốc độ lên một mức không đáng kể, trừ khi bộ nhớ bạn đang dùng có dung lượng rất thấp (từ 512MB trở xuống). Do bộ nhớ DDR2 có giá rất rẻ, nên sẽ tiết kiệm hơn nhiều nếu bạn sử dụng nhieeuf bộ nhớ DDR2 thay vì ReadyBoost.
Tuy vậy, nếu bạn đã có một hai bộ thiết bị bộ nhớ flash và muốn dùng thử ReadyBoost, nhưng Vista lại bảo rằng phần cứng của bạn không đủ nhanh để tham dự cuộc chơi,thì mẹo sau đây có thể giúp ích cho bạn.
Cách kích hoạt ReadyBoost trên một ổ USB ‘tốc độ thấp’ hoặc trên card bộ nhớ flash.
Đưa thiết bị vào và đừng để ý đến cửa sổ vừa hiện ra.
Mở 'start\computer', nhấn chuột phải vào thiết bị flash và chọn 'properties.'
Vào tab 'readyboost' và chọn 'do not retest this device', nhấn 'ok'.
Rút ổ USB ra.
Mở Regedit (vào menu 'start' và gõ 'regedit.')
Vào 'HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\WindowsNT\C urrentVersion\EMDMgmt'. Trong folder này, sẽ có một folder ứng với mỗi ổ USB bạn đã nối vào máy tính. Chọn ổ thích hợp.
Nhấn đúp lên giá trị 'DeviceStatus' và chuyển sang '2'.
Lại cắm USB vào. Sau đó nó sẽ được ReadyBoost nhận diện.
26. Tăng tốc ổ SATA trong Vista
Tương tự như trong mẹo số 24, bạn có thể thay đổi Vista để tăng tốc ổ cứng SATA trong. Cache ghi của Vista có hai mức, trong đó mức cơ bản hơn sẽ được kích hoạt mặc định. Nhưng nếu muốn thực sự tăng tốc ổ cứng SATA, bạn cần kích hoạt mode 'advanced disk performance'.
Cần chú ý rằng mẹo này, cũng như một số mẹo khác trong bài, có thể sẽ ảnh hưởng xấu đến Vista. Khi mở rộng cache ghi (dữ liệu chứa trong bộ nhớ được ghi vào ổ cứng), bạn cũng đã làm tăng nguy cơ gây tổn thương file hệ thống trong trường hợp treo máy hoặc mất điện. Nhưng bạn lại tăng được tốc độ ổ đĩa, vì thế quyết định là tuỳ ở bạn.
Cách kích hoạt tăng hiệu suất làm việc trong ổ SATA::
Vào 'start\computer.
Nhấn chuột phải vào ổ SATA trong cửa sổ computer và chọn 'properties.'
Bấm tab 'hardware'.
Chọn ổ SATA trong danh sách rồi nhấn phím 'properties'.
Chọn tab 'policies'.
Chọn 'enable enhanced performance'. Đọc kỹ hướng dẫn. Nhấn OK.
27. Chọn từng CPU cụ thể cho từng ứng dụng
Windows Vista cho phép bạn dễ dàng chỉ định một ứng dụng để chạy trên một CPU cụ thể với ứng dụgn mang tên processor affinity. Nếu máy tính của bạn dùng bộ xử lý 2 nhân hoặc 4 nhân thì đây là cách rất tốt để tận dụgn các bộ xử lý cấp hai. Kết quả đạt được còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng đây là một công cụ rất thú vị để kiểm tra loại chip đa nhân mà bạn mới sắm.
Cách đặt thiết lập quan hệ bộ vi xử lí cho một ứng dụng:
Khởi động ứng dụng cần thiết.
Nhấn tổ hợp phím CTRL+ALT+DEL và chọn 'task manager'.
Trong tab 'applications', tìm chương trình tương ứng rồi nhấn chuột phải và chọn 'go to process'.
Tab 'processes' sẽ hiện ra. Bấm chuột phải lên quy trình điều khiển ứng dụng của bạn và chọn 'set affinity...'.
Cửa sổ processor affinity sẽ mở ra. Chọn bộ xử lý bạn muốn chạy ứng dụng đó.
Chú ý rằng tất cả cá thiết lập đều sẽ quay trở lại giá trị mặc định khi bạn khởi động lại máy.
28. Thiết lập ưu tiên cho ứng dụng:
Tất cả các hệ điều hành hiện tại của Microsoft đều sử dụng khái niệm quyền ưu tiên, tức là thứ tự các quy trình được chú ý nhiều nhất từ CPU. Trong Vista, bạn có thể thay đổi thứ tự này tùy theo nhu cầu cá nhân để phần cứng tập trung chủ yếu vào những gì bạn muốn thực hiện.
Vista có một dãy thiết lập sẵn có, từ ‘thấp’ cho tới ‘thời gian thực’. Cần chú ý rằng tất cả các ứng dụng chiếm toàn bộ màn hình (trong đó có game) đều được Vista tự động ưu tiên, vì thế bạn không cần tăng tỉ lệ khung/giây. Tất cả những gì bạn cần làm là thay đổi tỉ lệ tốc độ/tài nguyên tiêu thụ của các ứng dụng window thường dùng.
Cách đặt lại thiết lập ưu tiên cho ứng dụng:
Mở ứng dụng cần dùng.
Nhấn CTRL+ALT+DEL và chọn 'task manager'.
Trong tab 'applications', tìm chương trình cần đặt mức ưu tiên rồi nhấn chuột phải và chọn 'go to process'.
Trong tab 'processes', bạn sẽ thấy quy trình điều khiển ứng dụng của bạn được đánh dấu. Baams chuột phải lên quy trình này và chọn 'set priority'. Danh sách ưu tiên sẽ mở ra. Điều tiếp theo bạn cần làm là chọn mức cần thiết, nhưng cần chú ý rằng nếu chọn 'realtime', có thể bạn sẽ gặp rắc rối khi muốn chạy một chương trình khác cùng lúc.
Tất cả các thiết lập sẽ quay lại thứ tự mặc định sau khi khởi động lại máy tính.
29. Tạo shortcut cho các ứng dụng đang chạy với thiết lập CPU/thứ tự ưu tiên nhất định
Nếu đã thử hai mẹo để chọn các CPU cụ thể và đặt mức ưu tiên cho các quy trình, chắc hẳn bạn sẽ nhận thấy rằng mọi thiết lập bạn tạo ra sẽ biến mất sau khi khởi động lại máy. Vậy làm sao để những thay đổi này tồn tại vĩnh viễn? Tất nhiên việc này không dễ dàng, nhưng hoàn toàn có thể thực hiện được bằng cách tạo shortcut tới ứng dụng cần chạy với thiết lập CPU và mức ưu tiên do bạn đặt ra.
Cách tạo shortcut để chạy ứng dụng với chỉ định CPU và thiết lập ưu tiên cụ thể:
Đầu tiên, bạn cần biết vị trí ứng dụng cần chạy. Cách tốt nhất để thực hiện việc này là sử dụng thanh tìm kiếm trong menu start. Giả sử bạn cần tìm file thực thi cho Vista Sidebar. Mở menu start và gõ 'sidebar' vào ô tìm kiếm.
Mục đầu tiên bạn gặp là file thực thi Windows Vista Sidebar. Baams chuột phải lên file này và chọn 'properties'. Nhấn phím 'open file location' ở phía cuối cửa sổ thứ hai.
Chú ý đường dẫn file trong thanh định hướng ở phía trên màn hình. Với Sidebar, đó là 'c:\program files\windows sidebar\sidebar.exe'.
Tiếp tục quay lại màn hình và tạo một shortcut mới bằng cách nhấn chuột phải rồi chọn 'new/shortcut.'
Khi shortcut wizard xuất hiện, gõ dòng sau vào text box:
C:\WINDOWS\system32\cmd.exe /c start "(tên ứng dụng bạn muốn khởi động, bao gồm cả dấu ngoặc kép).exe" /(thứ tự ưu tiên LOW, HIGH hay REALTIME) /AFFINITY (1 hoặc 2) "(đường dẫn tới file bạn muốn chạy, lấy từ bước vừa xong, bao gồm cả dấu ngoặc kép)"
Sau khi thay thế xong, bạn có thể bỏ dấu ngoặc, nhưng tất cả các format còn lại đều phải được giữ nguyên.
Lưu shortcut rồi dùng nó để khởi động ứng dụng với thiết lập mong muốn.

còn nữa:


Hiện đang vắng mặt   Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 thành viên cảm ơn HOANG ANH cho bài viết này:
bpbinhut (29-03-2008), nguyendan08 (21-03-2008)
Old 21-03-2008, 21:53   #6 (permalink)
Rìu Bạc Đôi
 
HOANG ANH's Avatar
 
Tham gia: Aug 2007
Bài: 588
Điểm: 657/293 bài viết
Default Dành cho người mới bắt đầu: 99 mẹo tuỳ biến Windows Vista - phần 6

Có một số tính năng mặc định trong Vista mà người dùng gia đình hiếm khi cần đến. Vì thế bạn có thể vô hiệu hoá chúng để tiết kiệm tài nguyên hệ thống. Nhưng cần chú ý rằng danh sách này được lập dành cho người dùng gia đình và môi trường mạng gia đình.

30. Vô hiệu hoá các dịch vụ không cần thiết trong Windows Vista
Có một số tính năng mặc định trong Vista mà người dùng gia đình hiếm khi cần đến. Vì thế bạn có thể vô hiệu hoá chúng để tiết kiệm tài nguyên hệ thống. Nhưng cần chú ý rằng danh sách này được lập dành cho người dùng gia đình và môi trường mạng gia đình.
Nếu máy tính của bạn nằm trong mạng lưới công ty lớn, hoặc bạn sử dụng mạng máy chủ (như hệ thống điều khiển tên miền) tại gia, thì bạn không nên thay đổi bất cứ dịch vụ mặc định nào đang có trong Vista cả.
Cách vô hiệu hoá các dịch vụ không cần thiết:
Mở menu 'start' và gõ 'services' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter.

Trong cửa sổ vừa hiện, tìm tên dịch vụ bạn muốn vô hiệu hoá. Nhấn chuột phải và chọn 'properties'.
Trong ô 'startup type', thay đổi giá trị sang 'disabled', nhấn phím 'stop' bên dưới để ngưng sử dụng dịch vụ ngay lập tức. Sau đó nhấn ‘ok’. Ngoài ra, nếu bạn không rõ về một chương trình hay ứng dụng nào đó đang sử dụng dịch vụ định vô hiệu hoá, bạn nên để 'manual', rồi bấm phím ‘stop’ bên dưới để ngưng sử dụng dịch vụ ngay lập tức. Khi chọn ‘manual’, nếu chương trình cần đến dịch vụ này, nó vẫn sẽ khởi động được chứ không gặp lỗi.
Dưới đây là danh sách các dịch vụ Vista mà bạn có thể yên tâm vô hiệu hoá bằng phương pháp vừa nêu. Không phải tất cả các dịch vụ này đếu có trong tất cả các phiên bản Vista, vì thế đừng lo lắng nếu bạn không tìm thấy một dịch vụ nào đó.
Application experience
Application management
Distributed link tracking client
Offline files
Webclient
Tablet PC input service
TCP/IP NETBIOS helper

Khởi động lại dịch vụ: Nếu bạn thấy hằng ngày mình đều sử dụng một ứng dụng trong danh sách trên, và muốn khởi động lại nó, bạn chỉ cần quay lại Services control panel, nhấn đúp lên dịch vụ cần vô hiệu hoá và chuyển 'startup type' thành 'automatic' rồi nhấn ok. Tiếp đó, nhấn chuột phải lên dịch vụ này rồi bấm "start" để khởi động dịch vụ. Khi chuyển 'startup type’ sang ‘automatic’, bạn đã ra lệnh cho Vista tự động khởi động dịch vụ mỗi khi máy tính được bật. Tuy nhiên, nếu dịch vụ đã bị vô hiệu hoá hoặc ngừng sử dụng, bạn cần phải khởi động lại dịch vụ này theo cách thủ công.
31. Tắt chức năng quét hệ thống tự động trong Windows Defender
Theo mặc định, Windows Defender sẽ tiến hành quét spyware hằng ngày (mặc dù là vào giờ nhàn rỗi nếu có thể). Tuy chương trình này chỉ chạy một cách lặng lẽ nhưng nó vẫn có thể ảnh hưởng đến tốc độ máy tính y như thể bạn đang quét toàn bộ file hệ thống vậy. Và có lẽ bạn cũng muốn vô hiệu hoá hoàn toàn chức năng quét tự động này và chỉ thỉnh thoảng tiến hành quét khi có sự đồng ý của bạn.
Cách tắt chức năng quét hệ thống tự động trong Windows Defender:
Mở menu 'start' và gõ 'defender.'
Click biểu tượng 'tools' trên màn hình cửa sổ, rồi chọn 'options'.
Xoá 'automatically scan my computer'. Bấm 'save'.
32. Nâng cấp lên Windows Vista Service Pack 1 Beta (SP1-beta)
Gói dịch vụ đầu tiên cho Windows Vista đã có ở bản beta, hứa hẹn sẽ cải thiện đáng kể tốc độ và khắc phục một số vấn đề dai dẳng ảnh hưởng đến tốc độ Vista, đặc biệt trên các máy tính hạng bình dân.
Mặc dù việc cài đặt phần mềm beta là khá mạo hiểm, nhưng lợi ích từ tốc độ Microsoft đem lại rất đáng để bạn liều một phen. Trong lịch sử của mình, các gói dịch vụ Windows đem lại khá nhiều lợi ích lớn (và đôi khi cả những việc đau đầu) cho người dùng, và SP1 lần này cũng không ngoại lệ. Chỉ cần đảm bảo rằng bạn sẽ cài đặt nó sau khi bản chính thức ra đời, nếu như chưa thực hiện điều này từ trước.
33. Vô hiệu hoá superfetch đối với máy tính bộ nhớ thấp
Superfetch là một tính năng khá thú vị trong Vista. Theo lý thuyết, chiếc PC của bạn sẽ ‘học tập’ những gì bạn hay làm khi truy cập file và ứng dụng, rồi cấu hình trước những ứng dụng hay dùng nhất trong bộ nhớ, giúp bạn nhanh chóng truy cập những ứng dụng này. Còn trong thực tế, chức năng này chỉ có ích cho những máy tính có bộ nhớ từ 2GB trở lên, và có nguy cơ làm chậm hoặc thậm chí treo máy đối với những hệ thống có ít hơn 2GB bộ nhớ. Nếu bạn thấy tốc độ khởi động của máy tính mình quá chậm, có lẽ bạn nên thử vô hiệu hoá tính năng Superfetch này.
Cách dừng và vô hiệu hoá Vista Superfetch:
Vào menu 'start' và gõ 'services' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter.
Trong cửa sổ vừa hiện, tìm dịch vụ 'superfetch'. Nhấn chuột phải và chọn 'properties.'
Đổi 'startup type' thành 'disable’ rồi nhấn phím ‘stop’ để ngưng sử dụng dịch vụ.
Nhấn 'OK'.
34. Khởi động Vista với tất cả các bộ xử lý hiện có
Mặc dù việc tận dụng tối đa các bộ xử lý đa nhân có thể giúp giải quyết những công việc nặng, nhưng Vista lúc nào cũng chỉ sử dụng một nhân xử lý duy nhất mà thôi. May mắn thay, bạn có thể khắc phục nhược điểm này và buộc Vista sử dụng toàn bộ các bộ xử lý hiện có trong quá trình khởi động.
Để làm Vista sử dụng toàn bộ các bộ xử lý hiện có trong quá trình khởi động:
Bấm chuột phải lên menu 'start' và gõ 'msconfig.' Nhấn Enter.
Vào tab 'boot' và bấm 'advanced options.'
Đánh dấu tuỳ chọn 'number of processors:' và chọn số lượng nhân xử lý rời trong máy tính.
Nhấn 'ok' để lưu các thay đổi vừa tạo. Sau đó khởi động lại máy tính.
35. Giúp Windows Vista 32 bit tận dụng tối đa bộ nhớ bằng cách kích hoạt PAE
Như đã đề cập từ trước, bản Vista 32bit sẽ chỉ nhận được tối đa trên 3GB bộ nhớ một chút nếu bạn cài 4GB RAM. Tuy nhiên, bạn có thể tận dụng được toàn bộ 4GB của mình bằng cách kích hoạt mode Mở rộng địa chỉ trang (PAE) trong Vista.
Tính năng này sử dụng bộ xử lý 64-bit của Intel và AMD để thêm không gian địa chỉ bộ nhớ vào phần bộ nhớ mà hệ điều hành thường sử dụng. Với PAE, bạn chỉ có thể truy cập 4GB bộ nhớ vật lý, vì thế bạn cần chuyển sang Vista 64 hoặc Linux nếu muốn có nhiều bộ nhớ hơn, nhưng nếu bạn chỉ có 4GB và muốn trung thành với bản Vista 32bit hiện có, thì mẹo này rất đáng để bạn thử sức.
Tôi cần báo trước rằng các địa chỉ bộ nhớ thêm mà PAE bổ sung sẽ buộc Vista phải làm việc một chút mới có thể sử dụng được, vì thế bạn cần cân nhắc giữa lợi ích và khó khăn mà lượng bộ nhớ tăng thêm mang lại. Đối với các ứng dụng sử dụng ít bộ nhớ, PAE sẽ khiến máy tính chạy chậm lại. Tuy vậy, mẹo này rất dễ thực hiện và cũng dễ xoá bỏ, nên bạn cũng chẳng mất gì nếu dùng thử một lần.
Cách kích hoạt mode PAE trong Windows Vista:
Mở ô lệnh quản lý (xem mẹo số 20)
Gõ dòng sau: 'bcdedit /set pae forceenable'. Khởi động lại máy tính.
Vậy là Vista đã nhận được toàn bộ 4GB bộ nhớ của bạn.
Nếu bạn chưa vừa lòng với mức cải thiện vừa đạt được, bạn có thể vô hiệu hoá PAE bằng cách mở lại ô lệnh quản lý và gõ 'BCDedit /set PAE forcedisable' rồi khởi động lại máy.
Hiện đang vắng mặt   Trả Lời Với Trích Dẫn
Thành viên đã cám ơn bài viết này của HOANG ANH:
bpbinhut (29-03-2008)
Old 21-03-2008, 21:55   #7 (permalink)
Rìu Bạc Đôi
 
HOANG ANH's Avatar
 
Tham gia: Aug 2007
Bài: 588
Điểm: 657/293 bài viết
Default Dành cho người mới bắt đầu: 99 mẹo tuỳ biến Windows Vista - phần 7

Vấn đề của công cụ dọn dẹp ổ đĩa trong Vista nằm ở một file mang tên 'cleanmgr.exe'. Nếu bạn truy cập file này từ ô lệnh, ban có thể kích hoạt một số tuỳ chọn ẩn, giúp quản lý tốt hơn công việc dọn dẹp của bạn. Hãy cùng tìm hiểu cách thực hiện quá trình này.

36. Dùng công cụ dọn dẹp ổ đĩa để tiết kiệm không gian
Vấn đề của công cụ dọn dẹp ổ đĩa trong Vista nằm ở một file mang tên 'cleanmgr.exe'. Nếu bạn truy cập file này từ ô lệnh, ban có thể kích hoạt một số tuỳ chọn ẩn, giúp quản lý tốt hơn công việc dọn dẹp của bạn. Hãy cùng tìm hiểu cách thực hiện quá trình này.

Cách dùng lệnh cleanmgr để tạo tuỳ chọn dọn dẹp ổ đĩa:

Mở ô lệnh quản lý (mở menu start, gõ ‘cmd’ vào ô tìm kiếm và nhấn CTRL+SHIFT+ENTER).

'cleanmgr /sagetset: 1' và nhấn Enter. Một danh sách những thứ bạn có thể xoá bằng diskcleanup sẽ hiện ra. Chọn những chức năng không cần thiết rồi nhấn ‘ok’ để lưu profile. Khi muốn chạy chương trình dọn dẹp ổ đĩa và tống khứ những gì không dùng đến khỏi tất cả các ổ, chỉ cần gõ dòng lệnh sau: 'cleanmgr /sagerun: 1'

37. Tắt hệ điều hành nhanh hơn

Khi bạn tắt Windows Vista, tất cả các dịch vụ đang chạy cũng sẽ tắt (tất nhiên rồi). Nhưng nếu một hoặc nhiều dịch vụ trong số đó đang làm việc hoặc bị treo, Windows có thể mất đến 20 giây trước khi đưa ra quyết định đóng tất cả các ứng dụng. Nhưng bạn có thể rút ngắn quá trình shutdown bằng cách giảm thời gian chờ đợi để Windows chấm dứt tất cả các quy trình đang thực hiện.

Cách rút ngắn thời gian tắt ứng dụng:

Mở menu 'start', gõ 'regedit' và nhấn Enter.

Vào 'HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Contr ol.

Nhấn đúp vào 'WaitToKillServiceTimeout' DWORD để thay đổi giá trị này. Đặt khoảng thời gian từ 5000 (5 giây) đến 12000 tuỳ vào nhu cầu của bạn.

Kể từ giờ, máy tính của bạn sẽ tắt nhanh hơn.

38. Vô hiệu hoá Vista sidebar

Sidebar là một trong số những tính năng mới gây tranh cãi nhất trong Vista bởi số lượng lời khen mà nó nhận được cũng ngang bằng với số lời chỉ trích. Nhưng cho dù bạn có ưa thích những tiện ích dễ sử dụng hay ghét sự kềnh càng của ứng dụng này, thì bạn cũng không thể phủ nhận rằng đây là một chức năng tiêu tốn rất nhiều tài nguyên, ngay cả khi bạn chẳng dùng gì tới nó.

Việc vô hiệu hoá Vista sidebar sẽ giúp tăng tốc độ và giảm thời gian khởi động máy tính của bạn đi rất nhiều. Còn nếu bnạ không muốn đi đến cùng và chấm dứt hoàn toàn chức năng này, bạn có thể sử dụng một số mẹo dưới đây để tận dụng tốt hơn sidebar cũng như các tiện ích của nó.

Cách vô hiệu hoá Windows sidebar:

Bấm chuột phải lên một vùng trống trong sidebar và chọn 'properties.’

Xoá tuỳ chọn 'Start sidebar when windows starts'. Nhấn OK.

Nhấn chuột phải lên một vùng trống trong taskbar và chọn 'close sidebar.'

39. Đặt mức ưu tiên thấp cho sidebar

Có thể bạn rất thíchVista sidebar (sao lại không cơ chứ?) nhưng lại tốn tài nguyên trong khi bnạ đang sử dụng các ứng dụng khác chẳng liên quan gì đến tính năng này? Sau đây là giải pháp cho bạn.

Bạn có thể đặt cố định mức ưu tiên thấp cho Sidebar, tức là hệ điều hành sẽ không dành nhiều tài nguyên cho các ứng dụng sidebar khi bạn đang sử dụng các ứng dụng khác chiếm toàn bộ màn hình.

Cách đặt cố định mức ưu tiên thấp cho sidebar trong Windows Vista:

Đầu tiên, tiến hành các bước như trong mẹo số 38 để ngăn sidebar khởi động cùng lúc với Vista.

Vào 'start/computer' và nhấn 'ALT' để mở taskbar menu file.

Vào 'tools\folder options' và chọn tab 'view'.

Trong mục 'hidden files and folders', chọn 'show hidden files and folders'. Nhấn ‘ok’.

Vào 'start\computer\c:\users\(your username)\appdata\roaming\microsoft\windows\start menu\programs\startup\'

Nhấn chuột phải lên thư mục trống và chọn 'new\shortcut.'

Khi cửa sổ shortcut wizard xuất hiện, copy và dán dòng sau đây:

C:\WINDOWS\system32\cmd.exe /c start "sidebar.exe" /LOW "C:\Program Files\windows sidebar\sidebar.exe"

Rồi nhấn ‘ok’ để lưu shortcut. Giờ đây mỗi lần bạn khởi động Windows Vista, sidebar cũng sẽ khởi động, nhưng ở mức ưu tiên thấp.

40. Bỏ tiện ích RSS feed trong sidebar

Ngay cả khi bạn không thực hiện thay đổi gì đối với sidebar thì bạn vẫn nên bỏ tiện ích mặc định RSS mà Microsoft đã thêm vào chức năng này. Vấn đề là ở chỗ tính năng đặc biệt này có một đặc điểm khó chịu là tự động chạy toàn bộ sau vài phút, cho dù bạn có đang làm gì chăng nữa. Việc này có thể khiến các ứng dụng khác chạy chậm lại.

Cách bỏ tiện ích RSS feed:

Đánh dấu tiện ích này rồi nhấn vào dấu ‘x’ nhỏ nằm trên cùng của biểu tượng.

41. Vô hiệu hoá chức năng phục hồi tự động

Đây là một trong số các tính năng có chức năng rất “đáng ngờ” trong Vista. Hầu hết các kỹ thuật viên sẽ nói với bạn rằng, nếu Windows đã hỏng nặng đến nỗi phải phục hồi lại hệ thống, thì bạn chẳng cần mất công cứu chữa nó làm gì. Khởi động từ safe mode hoặc từ đĩa CD, chuyển dữ liệu ra và cài đặt lại. Do chức năng phục hồi hệ thống trong Vista không có bất cứ cải tiến gì so với người tiền nhiệm của nó trong Windows XP, bạn nên vô hiệu hoá nó để tiết kiệm không gian ổ đĩa và để tránh thất vọng sau này.

Cần chú ý rằng chúng tôi không khuyên bạn ngừng việc sao lưu tự động, bởi lúc nào bạn cũng nên lưu giữ số liệu cá nhân và công việc vào một thiết bị lưu trữ vật lý riêng biệt. Chỉ có điều bạn không cần phải sao lưu file hệ thống hệ điều hành, bởi việc này chẳng đem lại ích lợi gì cả. Theo mặc định, chức năng phục hồi hệ thống chiếm khoảng 15% ổ đĩa, vì thế vô hiệu hoá nó là một việc làm có ích.

Cách vô hiệu hoá chức năng phục hồi hệ thống:

Mở menu 'start' và gõ 'backup'. Nhấn Enter.

Trong phần bên trái, bấm 'create a restore point or change settings.'


Trong mục the 'available disks', xoá tất cả các tuỳ chọn. Xác nhận và nhấn ‘ok’.

42. Vô hiệu hoá chức năng Hibernate trong máy tính để bàn

Nếu bạn liên tục sử dụng máy tính để bàn hay chạy nhiều ứng dụng lặt vặt thì có thể bạn sẽ muốn vô hiệu hoá tính năng “ngủ đông” trong Vista. Việc làm này sẽ tiết kiệm được kha khá không gian đĩa.

Cách tắt chức năngHibernate trong Windows Vista:

Mở menu 'start menu' và gõ 'cmd' vào ô tìm kiếm nhưng không nhấn Enter. Bấm chuột phải lên shortcut ‘cmd’ khi nó xuất hiện trong số kết quả tìm kiếm và chọn 'run as administrator'.

Trong dòng nhắc lệnh, gõ 'powercfg h off'.

43. Ngừng chức năng sắp xếp các Sector ( Defragment ) đĩa định kỳ

Microsoft đã đơn giản hoá cơ bản giao diện tính năng chắp liền đĩa trong Vista, biến nó trở thành một quy trình tự động, bởi có đến 99% người dùng không biết chức năng Defragment là gì và cách sử dụng nó ra sao.

Theo mặc định, Windows Vista sẽ chạy quy trình Defragment (tức là đảm bảo rằng tất cả các file trên ổ đĩa lấp đầy các không gian đĩa liền nhau chứ không bị chia rải rác khắp bề mặt đĩa vật lý) vào 1 giờ sáng thứ tư hàng tuần. Giả sử lúc đó bạn đang bận chơi game, thì quy trình này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới tốc độ khung của trò chơi. Vì thế tốt nhất là bạn nên vô hiệu hoá quy trình này và tự tiến hành chắp liền đĩa sau khoảng 3-6 tháng.

Cách vô hiệu hoá tính năng Defragment trong Windows Vista:

Mở menu 'start' và gõ 'defrag' vào ô tìm kiếm. Nhấn 'Enter'.



Xoá ô 'run on a schedule'.
Bấm 'ok
Hiện đang vắng mặt   Trả Lời Với Trích Dẫn
Thành viên đã cám ơn bài viết này của HOANG ANH:
bpbinhut (29-03-2008)
Old 21-03-2008, 21:57   #8 (permalink)
Rìu Bạc Đôi
 
HOANG ANH's Avatar
 
Tham gia: Aug 2007
Bài: 588
Điểm: 657/293 bài viết
Default Dành cho người mới bắt đầu: 99 mẹo tuỳ biến Windows Vista - phần 8

File page là một vùng trong ổ cứng được Windows lưu giữ để dùng làm bộ nhớ bổ sung.

Theo mặc định, Windows sẽ quản lý vá định lại kích thước file này tuỳ theo nhu cầu. Và Vista đã làm rất tốt việc tối ưu hoá file page, nhưng bạn vẫn có thể làm tốc độ của nó tăng lên đang kể. Nếu máy tính của bạn có cài trên một ổ cứng vật lý, thì bạn có thể chuyển file page lê ổ vật lý không cài Windows Vista. Do phần lớn các lần truy cập đều liên quan đến hệ điều hành Windows, nên việc này sẽ làm giảm đáng kể số lần truy cập ổ đĩa hệ điều hành, giúp tốc độ tổng thể tăng lên.

Cách chuyển file page trong Windows Vista:

Bấm menu 'start' và nhấn chuột phải vào 'computer'. Chọn 'properties'.

Trong phần bên trái, chọn 'advanced system settings'.

Bấm tab 'advanced', rồi chọn ‘settings…’ trong mục 'performance'

Tiếp tục chọn tab 'advanced', rồi nhấn ‘change…’ trong phần 'virtual memory'

Xoá ô 'automatically manage paging file size for all drives'.

Trong cửa sổ chứa danh sách các phần dành riêng (C:, D:…), chọn phần nằm trên ổ cứng vật lý không cài Windows. Sau đó nhấn tuỳ chọn 'system managed size' rồi bấm phím 'set' để tạo một file page trên ổ cứng vừa chọn.

Bạn sẽ thấy rằng 'paging file size' cho ổ đĩa vừa chọn giờ có giá trị 'system managed'

Tiếp tục chọn phần C: (giả sử rằng đây là nơi cài đặt Windows Vista). Chọn 'no paging file' và nhấn 'set'.

Vậy là file page của bạn đã được di chuyển.

45. Đặt kích thước file page cố định

Nếu bạn muốn khai thác tối đa file page trong Vista, bạn có thể đặt kích thước cố định cho file này. Thông thường thì hệ điều hành sẽ thay đổi kích cỡ file tuỳ từng trường hợp, nhưng quá trình này lại ảnh hưởng đến hoạt động của file cũng như khiến bạn không thể biết được file sẽ chiếm bao nhiêu dung lượng đãi. Nhưng nếu định kích cỡ file cố định, Vista sẽ không phải quản lý file page nữa, do đó sẽ thực thi các nhiệm vụ khác hiệu quả hơn.

Cách đặt kích thước file page cố định:

Bấm menu 'start' và nhấn chuột phải lên 'computer'. Chọn 'properties'.

Trong bảng bên tay trái, chọn 'advanced system settings'.

Bấm tab 'advanced’, rồi chọn mục ‘settings…’ trong phần 'performance'

Tiếp tục chọn tab 'advanced', rồi nhấn ‘change…’ trong phần the 'virtual memory'

Xoá ô 'automatically manage paging file size for all drives' ở đầu bảng.

Chọn ổ đĩa chứa file page. Chọn kích thước file 'custom' bên dưới.

Nhập kích thước file tối thiểu và tối đa vào hai ô bên dưới. Bạn nên chọn giá trị bằng 1.5 x dung lượng bộ nhớ vật lý hệ thống, ví dụ như bộ nhớ hệ thống có dung lượng 2GB, bạn nên chọn kích thước file page là 3GB.

Bấm 'set''ok'.

46. Định lại kích thước file page để tối ưu hoá tốc độ

Nếu sau khi cài đặt Vista mà tốc độ game của bạn chậm lại, hay thời gian tải ứng dụng tăng lên thì bạn nên thử mẹo sau đây. Theo mặc định, Vista không xoá nội dung file page (vùng trên ổ cứng mà Vista dùng làm bộ nhớ RAM bổ sung). Theo thời gian, file page có thể bị phân đoạn và hoạt động kém hiệu quả hơn. bạn có thể giải quyết vấn đề này bằng cách đặt lại file thường xuyên để đảm bảo tốc độ.

Cách đặt lại file page trong Windows Vista:

Bấm menu 'start' và nhấn chuột phải vào 'computer'. Chọn 'properties'.

Trong phần bên trái, chọn 'advanced system settings'.

Nhấn tab 'advanced', rồi chọn mục ‘settings…’ trong phần 'performance'

Tiếp tục chọn tab 'advanced', rồi nhấn ‘change…’ trong phần the 'virtual memory'

Xoá ô 'automatically manage paging file size for all drives' ở đầu bảng.

Chọn ổ đĩa chứa file page. Chọn kích thước file 'custom' bên dưới.

Chuyển kích thước file tối đa và tối thiểu thành '0' và nhấn ‘set’.

Khởi động lại máy tính.

Mở lại cửa sổ file page và chọn ổ đĩa chứa file page. Chọn 'system managed size' và nhấn 'set'. Xác nhận giá trị và nhấn ‘ok’.

47. Chuyển mục lục tìm kiếm sang ổ đĩa khác

Cũng như mẹo số 44, bạn có thể chuyển chỉ mục tìm kiếm sang ổ cứng vật lý khác để tiết kiệm dung lượng ổ và tăng tốc độ hệ thống. Cần chú ý rằng để thực hiện mẹo này, bạn cần xây dựng lại file chỉ mục, do đó tốc độ ban đầu sẽ chậm lại cho đến khi nó đạt đến kích thước file đầy đủ.

Cách chuyển chỉ mục tìm kiếm sang ổ đĩa khác:

Mở menu 'start' và gõ 'index' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter.

Bấm phím 'advanced'.



Bấm phần 'select new' ở cuối trang. Chọn vị trí mới trên một ổ cứng vật lý khác.

Nhấn 'ok'.

48. Vô hiệu hoá cảnh báo cạn dung lượng đĩa

Nếu bạn có một ổ cứng thứ hai đã đầy, hoặc một phần dành riêng sắp sửa đạt đến giới hạn dung lượng, Vist