Follow us on...
Follow us on Twitter Follow us on Facebook Watch us on YouTube

Tuyển nhân sự diễn đàn 2014

Gameshow “Ai Là Triệu Phú” trên VTV đang chờ đón bạn – Tải ngay!

Cuộc thi khoảnh khắc tuyệt vời cùng Vn-Zoom.com

Chiêm ngưỡng BaoMoi đẹp "tuyệt diệu" trên Windows Phone

Tin tức công nghệ mới nhất

Sản phẩm đáng chú ý tại Asus Expo 2014
Trang 290/494 đầuđầu ... 190 240 280 288 289 290 291 292 300 340 390 ... cuốicuối
kết quả từ 4.336 tới 4.350 trên 7402
  1. #4336
    swathai's Avatar
    swathai vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ
    Tham gia
    May 2008
    Bài
    15
    Cảm ơn
    46
    Điểm
    9/8 bài viết
    VR power
    0

    Default

    bác tybeo mang pháo cao xạ ra đấu với tank của em ư thất sách ròi
    đỡ đi ******** tybeo


    Panzer III

    Panzerkampfwagen III

    Panzer III Ausf. H
    Loại Xe tăng hạng trung
    Quốc gia chế tạo Đức Quốc Xã
    Lược sử hoạt động
    Trang bị 1939–1945
    Quốc gia sử dụng Đức Quốc Xã
    Romania
    Hungary
    Croatia
    Thổ Nhĩ Kỳ
    Na Uy
    Sử dụng trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai
    Lược sử chế tạo
    Nhà thiết kế Daimler-Benz
    Năm thiết kế 1935-1937
    Nhà sản xuất Daimler-Benz
    Giai đoạn sản xuất 1939–1943
    Số lượng chế tạo 5,774 (bao gồm cả StuG III)
    Thông số kỹ chiến thuật
    Trọng lượng 23 tấn
    Chiều dài 6.41 m
    Chiều rộng 2.90 m
    Chiều cao 2.5 m
    Kíp chiến đấu 5
    Bọc giáp 5-70 mm
    Vũ khí chính 1 × 3.7 cm KwK 36 Ausf. A-F
    1 × 5 cm KwK 38 Ausf. F-J
    1 × 5 cm KwK 39 Ausf. J¹-M
    1 × 7.5 cm KwK 37 Ausf. N
    Vũ khí phụ 2-3 × 7.92 mm Maschinengewehr 34
    Động cơ Maybach HL 120 TRM(12 xi lanh)
    300 PS (296 hp, 220 kW)
    Công suất/trọng lượng 12 hp/tấn
    Hệ thống treo Thanh xoắn
    Tầm hoạt động 155 km
    Tốc độ 40 km/h (25 mph)-trên đường, 20 km/h (12 mph)-việt dã
    Panzer-III là tên một loại xe tăng hạng trung do Đức phát triển vào năm 1930 và sử dụng trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tên kĩ thuật đầy đủ của Panzer III là Panzerkampfwagen III (Pz.Kpfw.III)-dịch sang tiếng anh:"armoured battle vehicle"-tạm dịch:phương tiện chiến đấu bọc thép.Nó được thiết kế nhằm mục đích hỗ trợ bộ binh và tấn công lực lượng thiết giáp quân địch.Đến năm 1941, Panzer-III gặp phải hai đối thủ mới từ Liên Xô, đó chính là T-34 và dòng KV.Hai loại tăng này đều có pháo chính và lớp giáp bọc dày và mạnh hơn rất nhiều so với Panzer-III.Ngay lập tức, Panzer-IV(trang bị pháo chính 7.5 cm KwK 40) ra đời thay thế cho Panzer-III và tiếp đó là Panther.Biến thể cuối cùng của Panzer-III đó chính là phiên bản được trang bị pháo chính 7.5 cm KwK 37 L/24.Việc sản xuất Panzer-III nhằm phục vụ cho chiến trường chính thức kết thúc vào năm 1943, tuy nhiên khung tăng của nó vẫn còn được sản xuất đến tận năm 1944-cung cấp cho pháo tự hành diệt tăng StuG-III.

    Vào ngày 11/1/1934, Heinz Guderian đứng đầu lực lượng quân đội Đức dự định thành lập một dự án phát triển tăng hạng trung mới thoả mãn những yêu cầu như trọng lượng tối đa 24.000 kg và đạt tốc độ tối đa khoảng 35 km/h.Nó được thiết kế nhằm bổ sung thêm cho lực lượng thiết giáp Đức bấy giờ. Tất cả các hãng sản xuất thiết giáp nổi tiếng nhất nước Đức như Daimler-Benz, Krupp, MAN, và Rheinmetall đều được chỉ thị sản xuất các mẫu mã.Việc thử nghiệm và xem xét các bản thiết kế của các tập đoàn được thực hiện vào năm 1936-1937.Cuối cùng bản thiết kế của tập đoàn Daimler-Benz được chọn làm mẫu chính để sản xuất.Panzer III Ausf.A(mẫu đầu tiên) được đưa vào sản xuất chính thức vào tháng 5/1937, mười chiếc được sản xuất(trong đó có hai chiếc không được lắp ráp vũ khí).Việc sản xuất phiên bản Panzer III Ausf.F bắt đầu vào năm 1939.
    Vào giữa năm 1937-1940, tập đoàn Krupp và Daimler-Benz bắt đầu việc nghiên cứu và chuyển đổi bộ phận nhằm chuẩn bị cho quá trình thiết kế Panzer IV.
    Sau khi sản xuất được một vài mẫu, vấn đề thay thế bộ phận treo hiện tại bằng một hệ thống khác hoàn chỉnh hơn được đặt ra.Một vài hệ thống treo đã được lắp ráp thử nghiệm trên Panzer III Ausf.A và Ausf.D.Daimler-Benz chọn thanh xoắn chuyển động lực làm bộ phận treo cho dòng Panzer-III.Trong thời điểm này, Panzer-III và KV là hai loại tăng duy nhất sử dụng hệ thống treo này.
    Khi được xuất xưởng, với những tính năng đặc biệt như:kíp lái 3 người-hỗ trợ một cách tốt nhất trong việc phòng thủ, liên lạc cũng như điều khiển vũ khí;một pháo chính và hai pháo phụ;hệ thống treo mới giúp cho động cơ có sức vận động mạnh và nhanh hơn, Panzer III đã từng một thời làm mưa làm gió trên chiến trường nhưng đến khi hai dòng tăng chủ lực của Liên Xô là T-34 và KV(KV-I và KV-II) xung trận thì Panzer III đã tỏ ra yếu thế hơn.Chính vì thế, dự án nâng cấp Panzer III do Daimler-Benz thành lập nhằm thay pháo chính của Panzer III lên pháo có cỡ nòng 50 mm, bọc giáp lại phần trước và sườn(do tăng KV của Liên Xô có sức công phá lớn nhưng hay bắn trượt khiến cho viên đạn làm tung giáp sườn của Panzer).Sau khi dự án hoàn thành, Panzer-III đã trở nên ngang bằng với các phiên bản đầu của T-34, buộc người Liên Xô phải nghiên cứu và nâng cấp lại T-34.
    Vào năm 1942, phiên bản cuối cùng của Panzer-III là Ausf.N được hoàn thành.Ausf.N được trang bị pháo chính 75 mm KwK L/24, hai súng phụ có tầm ngắm gần để phòng vệ trước bộ binh.Để tăng sức công phá, Panzer III Ausf.N sử dụng loại đạn có sức xuyên từ 70-100 mm giáp trước và sườn.
    Phát xít Nhật có đặt mua hai chiếc Panzer III từ Đức Quốc Xã với mục đích sử dụng để nghiên cứu và thử nghiệm, tuy nhiên do quân Nhật không chú trọng lắm vào việc chế tạo thiết giáp mà chỉ lo chế tạo các loại chiến hạm, hàng không mẫu hạm cũng như tàu ngầm nên mặc dù mua từ Đức Quốc Xã nhưng số tăng này nhanh chóng bị di chuyển vào các kho hàng.Đến năm 1943, phát xít Đức dừng việc chuyển xe tăng Panzer III cho lục quân Nhật.
    Lớp giáp bọc
    Phiên bản Panzer III Ausf.A đến phiên bản Ausf.C đều có lớp giáp trên đỉnh bằng thép dày 10 mm, phần sau dày 5 mm.Tuy nhiên do lớp giáp bọc này quá mỏng khiến cho việc bảo vệ kíp chiến đấu cũng như xe tăng rất yếu, dẫn đến việc bọc giáp lại phần trước, sườn và phía sau đều dày trên 30 mm.Tất cả các phiên bản Ausf.D.E.F và G đều được thu hồi và bọc giáp lại.Panzer III Ausf.H là phiên bản duy nhất có phần giáp bọc bằng thép tôi lại dày hơn 30 mm ở mặt trước và sau.Ausf.J có lớp giáp bằng kim loại dày 50 mm ở mặt trước, sườn và sau.Các mẫu khác như Ausf.J(1).L và M có lớp giáp dày 20 mm trên đỉnh và phần giữa khung.Sau khi dự án cải thiện phần giáp được hoàn thành, Panzer III có lớp giáp bọc dày nhất thời đó, khiến cho nó rất khó bị xuyên thủng bởi đa phần số pháo tự hành chống tăng của Liên Xô và Đồng Minh.
    Vũ khí
    Panzer III được trang bị pháo chính 50 mm, 37 mm PaK 36.Vì pháo 50 mm yêu cầu tăng phải có diện tích trống rộng hơn nên phần đai trục nòng tăng được thiết kế to ra, thân tăng được làm rộng hơn. Từ phiên bản Ausf.A đến Ausf.F đều được trang bị pháo chính 3.7 cm KwK 36 L/46.5, tuy nhiên loại pháo này có sức xuyên giáp và công phá rất kém, dẫn đến việc trang bị lại pháo 5 cm KwK 38 L/42 cho các phiên bản Ausf.F và J.Phiên bản Ausf.J(1) và M được lắp pháo 5 cm KwK 39 L/60 dài và mạnh hơn.Phiên bản Ausf J(1) có sức công phá đặc biệt mạnh, điều này đã được thể hiện tại chiến trường Bắc Phi, khi đối đầu với xe tăng Anh, Ausf.J(1) đã dễ dàng loại các loại tăng này ngay lập tức. Vào năm 1942, khi Panzer IV và Panther trở thành hai loại tăng chủ lực của Đức Quốc Xã trên chiến trường thì Panzer III lại trở thành tăng hỗ trợ bộ binh.Nó được trang bị pháo phụ tầm gần 7.5 cm KwK 37 L/24-được dùng trong các phiên bản Panzer IV Ausf.A-F.
    Các phiên bản đời đầu đều có trang bị hai súng máy phụ 7.92 mm MG 34 nối bằng trục gần hai pháo chính.Nhưng từ phiên bản Ausf.G trở đi thì số súng phụ giảm xuống chỉ còn một khẩu MG 34 và một thanh đồng trục nối vào thân.
    Độ linh động
    Động cơ của Panzer III
    Panzer III Ausf.A-C đều được trang bị động cơ Maybach HL 108 TR(12 xi lanh;250 mã lực) có thể đạt vận tốc tối đa vào khoảng 35 km/h và hoạt động trong tầm 150 km.Các phiên bản đời sau được trang bị lại động cơ Maybach HL 120 TRM(12 xi lanh;300 mã lực) đều có vận tốc tối đa vào khoảng 40 km/h(còn tuỳ thuộc vào bộ truyền lực, sự hoạt động của tay đòn lực cũng như trọng lượng), và tầm hoạt động tăng thêm 5 km nữa lên 155 km.

    nào anh em xung phong rape chết tybeo cho ta

    Lược sử hoạt động
    Panzer III tham gia tất cả các chiến dịch từ Châu Âu đến Bắc Phi.Một bộ phận các sư đoàn tinh nhuệ Panzer III có tham gia trận Normandy vào năm 1944.
    Trong chiến dịch Ba Lan và Pháp, chỉ có vài trăm chiếc Panzer III được huy động tham gia chiến đấu.Các phiên bản Ausf.A-F với lớp giáp gần 50 mm và được trang bị pháo chính 37 mm đã loại các loại thiết giáp Anh, Ba Lan và Pháp khác như Polish 7TP, French R-35 và H-35 một cách rất dễ dàng trong các trận đấu trực diện.Panzer III được đánh giá là loại tăng hạng trung tốt nhất thời bấy giờ.

    Trong cuộc hành quân Barbarossa, Panzer III là loại tăng hạng trung chính với số lượng được huy động với hàng ngàn chiếc.Cũng trong thời điểm này, các phiên bản mới như Ausf.E-F-G và H(được trang bị pháo chính 50 mm KwK L/42) đều được xuất xưởng và đưa thẳng ra chiến trường.Tuy nhiên, số Panzer III đã vấp phải một số vấn đề khi đối đầu với T-34 và KV, ngay lập tức các mẫu Panzer IV đầu tiên được gấp rút huy động để có thể cân bằng lại mặt trận.Nhưng vì số lượng T-34 và KV hiện tại chưa nhiều, chiếm đa số hiện tại là tăng hạng nhẹ T-26 và BT.Số Panzer III với kíp lái được rèn luyện kĩ, vũ khí và lớp giáp bọc tốt đã đánh chiếm và tiêu diệt được số tăng Liên Xô một cách dễ dàng, đánh một tỉ lệ 6:1-nghiêng về phe Đức.
    Cuối chiến dịch Barbarossa, hai dòng tăng T-34 và KV được Liên Xô nhân rộng sản xuất.Ngay lập tức, Panzer III được cải tiến lại với pháo chính 50 mm.Nhưng phiên bản cải tiến này vẫn không thể hạ đo ván được T-34 và KV.Vào mùa xuân 1942, dự án thay thế pháo chính hiện tại bằng pháo 50 mm KwK 39 lắp trên Panzer III Ausf.J(1) được hoàn thành.Điều bất ngờ đã xảy ra khi phiên bản J(1) có thể xuyên được giáp trước của T-34 từ khoảng cách 500 m và tốn nhiều lần bắn để có thể xuyên thủng được giáp của KV.
    Vào năm 1943, phiên bản Ausf.L được lắp thêm phần giáp váy(schürzen) để chống lại lựu đạn và các loại pháo tự hành chống tăng.Trong trận vòng cung Kursk, Panzer III có nhiệm vụ chính là hỗ trợ bộ binh và nhường lại vai trò chính cho Panzer IV và Panther(tăng con báo).
    Panzer III được thiết kế để trở thành tăng có kíp lái ba người(pháo thủ, người thay đạn và chỉ huy).Vì thế chỉ huy tăng có thể tập trung vào việc điều khiển và quan sát bên ngoài lẫn bên trong.Đa số các loại tăng vào năm 1930 đều có cách thiết kế này.Kiểu kíp lái này có ưu điểm là:kíp lái có thể linh động theo tình huống, chỉ huy có thể tập trung vào việc quan sát, nhưng có nhược điểm là:không có người điều khiển điện đàm giúp cho việc chuyển tải thông tin không được thông suốt, số pháo thủ quá ít khiến cho việc thay đạn và khai hoả chậm gây nguy hiểm cho xe tăng.
    các Biến thể

    Panzer III Ausf.A-B-C-D:tái sản xuất vào năm 1937-1938.75 chiếc các loại được sản xuất.
    Panzer III Ausf.E-F:bắt đầu sản xuất từ năm 1939-1940.Trang bị pháo chính 3.7 cm KwK 36 L/46.5(sau này thay lại bằng pháo 5 cm KwK 38 L/42).531 chiếc các loại được sản xuất.
    Panzer III Ausf.G:bọc thêm giáp phần trước và tháp pháo.Trang bị pháo chính 5 cm KwK 38 L/42.Từ năm 1940-1941, có khoảng 600 chiếc được sản xuất.
    Panzer III Ausf.H:sửa đổi chút ít lại kết cấu.Bọc thêm giáp phần trước và phần sau(tổng cộng 60 mm phần trước gồm 30 mm giáp bọc và 30 mm phần bảo vệ đĩa).Từ năm 1940-1941, có khoảng 308 chiếc được sản xuất.
    Panzer III Ausf.I:biến thể có trong bản báo cáo của quân Đồng Minh, tuy nhiên không có bằng chứng nào chứng tỏ rằng đã từng có loại biến thể này.
    Panzer III Ausf.J:phần thân tăng được thiết kế lại dài hơn.Phần giáp trước dày 50 mm.Có 482 chiếc[2] được sản xuất.
    Panzer III Ausf.J(1):được trang bị lại pháo chính 5 cm KwK 39 L/60 dài và mạnh hơn.Từ cuối năm 1941 đến giữa năm 1942, có khoảng 1067 chiếc được sản xuất.
    Panzer III Ausf.K:phiên bản tăng chỉ huy(Panzerbefehlswagen) với tháp pháo được sửa chữa lại(không có vũ khí-lắp pháo giả).Thiết kế ngăn chứa đạn và chỗ trống bên trong rộng hơn.
    Panzer III Ausf.L:tăng giáp trước lên 70 mm(giáp trước+phần bảo vệ đĩa).Có 653 chiếc[3] được sản xuất.
    Panzer III Ausf.M:phiên bản được sửa chữa nhỏ ở phần sáng gầm và giáp váy.Từ năm 1942-1943, có khoảng 250 chiếc được sản xuất.
    Panzer III Ausf.N:phiên bản được trang bị pháo chính ngắn 7.5 cm KwK 37 L/240-sử dụng loại đạn HEAT.Từ năm 1942-1943, có khoảng 700 chiếc được sản xuất và sửa chữa.


    Các mẫu tăng thiết kế dựa trên khung tăng Panzer III

    Artillerie-Panzerbeobachtungswagen III-pháo tự hành, 262 chiếc được sản xuất.
    Bergepanzer III:thiết kế dựa trên khung tăng Panzer III nhưng được bọc giáp dày hơn.
    Flammpanzer III Ausf. M / Panzer III (F1):xe tăng phun lửa, 100 chiếc được sản xuất dựa trên khung tăng Panzer III Ausf.M.
    Minenräumer III:xe dò mìn, được trang bị hệ thống giảm xóc cao, chưa bao giờ được sản xuất.
    Panzerbefehlswagen III:xe tăng chỉ huy, được trang bị pháo giả, bọc giáp dày và có bộ điện đàm hiện đại.
    Sturm-Infanteriegeschütz 33B:pháo tự hành xung kích, trang bị pháo chính 15 cm sIG 33.24 chiếc được sản xuất.
    Sturmgeschütz III:pháo tự hành xung kích và diệt tăng, trang bị pháo chính 75 mm StuK.
    SU-76i(Liên Xô):được thiết kế dựa trên khung tăng Panzer III và StuG-III mà Hồng Quân bắt được.Hơn 1200 mẫu khung này được chuyển đến các nhà máy để sản xuất, nhưng chủ yếu chuyển đến nhà máy số 38 tại Stalingrad.Số khung tăng được lược bỏ phần trên thay vào đó là tháp pháo mới có trang bị pháo chính 76.2 mm ZiS-5.Phần đặt pháo được bọc giáp dày hơn 60 mm, 50 mm ở phần trước và 30 mm ở phần sườn.SU 76i lần đầu tham trận vào mùa thu năm 1943.Hiện tại còn lại hai chiếc SU-76i:chiếc thứ nhất được trưng bày tại đài tưởng niệm tại Ukraina;chiếc thứ hai được trưng bày tại bảo tàng trên đồi Poklonnaya, Mát-xcơ-va.
    Tauchpanzer III:một vài chiếc được chế tạo dựa trên khung tăng Panzer III thành tăng lội nước để tham gia chiến dịch Sư tử biển.

    em đang bao vây nhà bác tybeo đó
    Thay đổi nội dung bởi swathai; 08-03-2011 lúc 17:30.

  2. #4337
    swathai's Avatar
    swathai vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ
    Tham gia
    May 2008
    Bài
    15
    Cảm ơn
    46
    Điểm
    9/8 bài viết
    VR power
    0

    Default

    nào phản kháng đi hỡi quân liên xô và đồng minh
    p/s bác tôm sống cứ thoải mái oanh kích đê chúng cứ ra con phòng không nào để em xử tất hô hô

    Marder II
    Marder II là tên một loại pháo tự hành diệt tăng phục vụ cho lực lượng Đức Quốc Xã trong thế chiến II. Nó được lắp ráp dựa trên khung tăng Panzer II và trang bị pháo chính 7.5 cm PaK 40.
    Loại Pháo tự hành diệt tăng
    Quốc gia chế tạo Đức Quốc Xã
    Thông số kỹ chiến thuật
    Trọng lượng 10.8 tấn (23,809 lb)
    Chiều dài 6.36 m (21 ft)
    Chiều rộng 2.28 m (7 ft 6 in)
    Chiều cao 2.2 m (7.21 ft)
    Kíp chiến đấu 3
    Bọc giáp 5-35 mm (.19 -1.37 in)
    Vũ khí chính 1x 7.5 cm Pak 40
    37 viên
    Vũ khí phụ 7.92 mm MG34
    600 viên
    Động cơ Maybach HL 62 TRM
    140 hp
    Công suất/trọng lượng 12.96 hp/tấn
    Hệ thống treo Thanh xoắn
    Tầm hoạt động 190 km (118 mi)
    Tốc độ 40 km/h (25 mph)

    Trong cuộc hành quân Barbarossa, lực lượng thiết giáp Đức đã thực sự bất ngờ trước hai dòng tăng mới của Liên Xô là T-34 và KV. Mặc dù Wehrmacht đã đánh chiếm và tiêu diệt nhiều cụm quân Liên Xô cũng như thành công trong chiến dịch đánh nhanh thắng nhanh, bao vây và chia cắt kẻ thù, nhưng quân Đức vẫn thiếu các loại pháo tự hành chống tăng như Panzerjäger I để có thể tăng thêm tính hiệu quả cho chiến dịch.
    Dự án Marder được thành lập nhằm thiết kế một dòng pháo tự hành chống tăng mới. Nhiều mẫu khung đã được chọn lựa, trong đó có cả khung Panzer-II, Panzer-III, Lorraine Schlepper. Cuối cùng mẫu Panzer-II được chọn làm khung cho Marder II. Khung Panzer-II tạo cho Marder II thêm chỗ trống để chứa đạn và lắp pháo. Marder II được trang bị pháo 7.5 cm PaK 40 hoặc một loại pháo mới được chế lại từ pháo 7.62 cm F-22 mẫu 1936 của Hồng Quân. OKH đã chỉ thị sản xuất một số lượng lớn hai loại pháo trên trước năm 1941, nhằm có đủ cung cấp cho chiến dịch xâm lược Liên Xô

    Việc sản xuất Marder II được chia làm hai giai đoạn:
    Giai đoạn đầu: Marder II (Sd.Kfz.132) trong giai đoạn này được lắp ráp khung tăng Panzer II Ausf.D/E và Flammpanzer II với hệ thống treo Christie, trang bị pháo chính 7.5 cm PaK 40 (ban đầu là pháo Soviet 7.62 cm) - nhằm tăng độ xuyên giáp. Marder II giai đoạn này có chiều cao thân tăng cũng như tháp pháo khá khiêm tốn (chỉ có 2.6 m), phần giáp trước chỉ dày có 30 mm và 10-15 mm ở hai bên thân. Do không có bọc giáp chỗ tháp pháo nên kíp chiến đấu rất dễ bị tổn thương. Alkett và Wegmann sản xuất được khoảng 201 chiếc Marder II (Sd.Kfz.132) từ năm 1943-1943.
    Giai đoạn thứ hai: Marder II (Sd.Kfz.131) giai đoạn này được lắp ráp dựa trên khung tăng Panzer II Ausf.A-C-F. Marder Sd.Kfz.131 được trang bị pháo chính 7.5 cm PaK 40. Phiên bản này giảm chiều cao tháp pháo xuống thêm 40 cm nữa (2.6 m thành 2.20 m). Phần giáp trước được gia cố lại, giáp hai bên sườn giữ nguyên và Daimler-Benz thêm phần giáp bọc trên tháp pháo. FAMO, MAN và Daimler-Benz tham gia sản xuất được khoảng 651 chiếc Marder II (Sd.Kfz.131) từ tháng 6 năm 1942 đến năm 1944.

    Toàn bộ số Marder II được huy động tham gia toàn bộ các trận chiến ở cả hai mặt trận, nhưng chủ yếu là hoạt động ở mặt trận phía Đông.
    Marder II được phân vào các sư đoàn Panzerjäger Abteilungen, SS và thậm chí cả hoạt động cho cả Luftwaffe.
    Điểm yếu nhất của Marder II chính là lớp giáp bọc quá mỏng, phần tháp pháo quá thấp khiến cho bộ binh dễ dàng tấn công bằng lựu đạn hoặc súng bắn tỉa bình thường. Ngoài ra, động cơ yếu làm cho Marder II di chuyển không nhanh lắm và dễ trở thành mục tiêu cho lực lượng thiết giáp đối phương.
    Marder II không thể hoạt động trong thành phố vì có khá nhiều điểm yếu khiến cho bộ binh dễ dàng tiếp cận và tiêu diệt. Tuy nhiên nếu như biết cách sử dụng Marder II với vai trò các ụ pháo tự hành thì sức sát thương của nó sẽ rất lớn. Trong thực tế, quân Đức không bao giờ sử dụng Marder II trong vùng nội thành (urban) mà chỉ toàn sử dụng nó tại các pháo đài, ụ pháo canh phòng,...

    không co ai phản kháng à buồn ghê
    Thay đổi nội dung bởi swathai; 08-03-2011 lúc 17:24.

  3. #4338
    SU - 30 MKVII's Avatar
    SU - 30 MKVII vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ Đôi
    Tham gia
    Oct 2010
    Bài
    41
    Cảm ơn
    24
    Điểm
    24/13 bài viết
    VR power
    0

    Post Usarmy

    Trích swathai View Post
    nào phản kháng đi hỡi quân liên xô và đồng minh
    p/s bác tôm sống cứ thoải mái oanh kích đê chúng cứ ra con phòng không nào để em xử tất hô hô
    Pháo tự hành M56 “Scorpion” - Bọ cạp


    Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, quân đội Mỹ đặt ra yêu cần cần loại pháo chống tăng hạng nhẹ và cơ động, có thể thả xuống bằng dù từ đường không, nhưng quan trọng nhất – hỏa lực của nó phải tương đương với xe tăng. Loại vũ khí này được hãng “Cadillac” thiết kế, có tên gọi M56 “Scorpion” và được sản xuất từ năm 1953 đến 1959. Pháo tự hành M56 có mặt trong biên chế sư đoàn dù số 82 và 101 và một số không lớn được sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, với mục đích chính là hỗ trợ cho bộ binh. Ngoài ra, M56 còn được xuất khẩu cho Tây Ban Nha và Maroc.




    "Scorpion" nhìn từ phía sau:

    Nhược điểm chính của thiết bị này là giáp bảo vệ mỏng và độ giật của pháo lớn, làm cho toàn bộ hệ thống bị kéo giật lùi về phía sau một khoảng cách khá lớn, có thể làm hỏng thước ngắm và toàn bộ xe bị phủ bụi. Vào những năm 1960, M56 được thay thế bằng M551 – tuy thế, cũng rất không thành công.


    Khẩu pháo tự hành M56 Bọ-cạp đang tác xạ phản công đối phương. Phần thân sau của xe trống hoác khiến kíp pháo thủ phơi ra trước các loại hỏa lực là một trong những nhược điểm chính của dòng pháo tự hành này.
    Các thông số kỹ thuật chính:
    Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
    Kíp xe: 7 người
    Khối lượng: 7 tấn
    Kích thước: chiều dài: 5,84m; chiều rộng: 2,58m; chiều cao: 2,1m
    Tầm hoạt động: 225km
    Bọc thép: không xác định
    Trang bị: một pháo 90mm
    Động cơ: động cơ xăng 6 xilanh “Continental” 200 sức ngựa
    Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 45km/h
    Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 0,7m; hố sâu: 1,5m
    Trong chiến tranh Việt Nam M56 được trang bị cho lữ đoàn dù 173 của quân đội Hoa Kỳ dùng áp chế xe tăng của Bắc Việt


    Kíp pháo thủ khẩu pháo tự hành M56 Bọ-cạp thuộc Khẩu đội D Lữ đoàn 173 đổ bộ đường không tham gia diễn tập gần Biên Hòa. Khẩu đội D với loại pháo tự hành M56 Bọ-cạp là đơn vị duy nhất trang bị loại vũ khí này được điều tới Việt Nam.

    M56 hành quân

  4. #4339
    tybeo's Avatar
    tybeo vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Chiến Bạc
    Tham gia
    Apr 2008
    Đến từ
    off vô thời hạn
    Bài
    3.532
    Cảm ơn
    2.365
    Điểm
    3.119/862 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Trích swathai View Post
    bác tybeo mang pháo cao xạ ra đấu với tank của em ư thất sách ròi
    đỡ đi ******** tybeo
    ta đan bắn mấy cái máy bay của tên thumpsun kìa chú lại chọt sau lưng ta ư dc dc

    p/s: luongmy mau điều ASU-57 ngay nào
    Chúng ta thấy tương lai tươi sáng của tổ quốc yêu dấu
    Với lý tưởng ******** bất tử
    Chúng ta sẽ mãi mãi trung thành
    Dưới lá cờ đỏ thấm của Tổ quốc vinh quang




  5. #4340
    swathai's Avatar
    swathai vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ
    Tham gia
    May 2008
    Bài
    15
    Cảm ơn
    46
    Điểm
    9/8 bài viết
    VR power
    0

    Default

    này thì m56 đỡ đi.con này thì 88mm cũng không phải đối đâu hô hô
    Ta tư lệnh thiết giáp phát xít sẽ đè bẹp mọi phản kháng wa ha ha

    WunderWaffe 2- xe tăng siêu trọng

    Loại xe tăng siêu nặng
    Nơi sản xuất Đức Quốc xã
    Lịch sử sản xuất
    Sản xuất 1944
    Số lượng được sản suất 2
    Thông số kỹ thuật
    Trọng lượng 200 tấn (220,5 tấn)
    Chiều dài 10,2 mét (33 ft 6 in)
    Chiều rộng 3,71 mét (12 ft 2 in)
    Chiều cao 3,63 mét (11 ft 11 in)
    tổ lái 6
    250 mm (9,8 in) (giáp trước)
    240 mm (9.4 in) (tháp pháo phía trước)
    220 mm (8,7 in) (cạnh tháp pháo và phía sau tháp pháo)
    210 mm (8,3 in) (phía sau tháp pháo phía trước vật che đạn của pháo thủ sự)
    190 mm (7,5 in) (thân sau)
    vũ khí chính
    vũ khí trang bị 128 mm KwK 44 súng L/55
    (số đạn 32)
    vụ khí phụ
    trang bị vũ khí 75 mm KwK 44 súng L/36.5
    (đồng trục) (200 viên)
    7,92 mm súng máy MG34
    Động cơ diesel 517 MB
    (V-12-xi lanh)
    1200 mã lực (895 kW)
    Công suất / trọng lượng 6,4 hp / t
    Công suất 2.700 lít nhiên liệu (590 imp gal, 710 US gal) (bên trong thùng nhiên liệu)
    1.500 lít (330 imp gal, 400 US gal) (bên ngoài bồn chứa nhiên liệu)
    Hoạt động
    phạm vi 160 km (99 dặm) (đường bộ)
    62 km (39 dặm) (ngoài đường)
    Tốc độ 13 km / h (8,1 dặm / giờ

    Các kỹ sư người Đức đã cho ra đời nhiều mẫu thiết kế xe tăng hạng nặng và Panzerkampfwagen VIII Maus là một trong những mẫu xe tăng nặng nhất, 180 tấn, ra đời trong thời chiến. Tuy nhiên vấn đề là ở chỗ không có loại động cơ nào đủ mạnh để giúp xe tăng đạt tốc độ 20 km mỗi giờ. Loại xe tăng hạng nặng này chỉ đạt tốc độ 13 km một giờ và quá nặng để có thể đi qua cầu.



    Xe tăng Maus siêu nặng có trọng lượng lên tới 180 tấn.

    Vì loại xe tăng này tương đối cao so với mặt đất nên nó có thể lội qua những chỗ nước sâu, cho phép thợ lặn bơi dọc theo thân xe. Tuy nhiên để thực hiện được nhiệm vụ này, xe tăng Maus phải đi cặp với một chiếc xe tăng khác, cung cấp điện thông qua dây cáp. Điều đặc biệt khác là, với một chiếc ống thông hơi dài, xe tăng Maus có thể lặn dưới độ sâu 14 m, và cung cấp không khí cho toàn bộ đội lính.



    Hình dáng "khủng" cũng khiến Maus gặp nhiều khó khăn khi di chuyển.

    Thiết kế của Maus cho thấy xe tăng này được trang bị súng cối 305 mm, có tên gọi Bear, kèm theo một phương tiện nặng 150 mm với vũ khí chính là khẩu súng nòng 800 mm, kèm theo hai khẩu 150 mm đặt trên tháp pháo bổ trợ. Loại phương tiện đặc biệt này, sản phẩm của hai kỹ sư Grote and Hacker, sử dụng bốn động cơ diesel loại dùng cho tàu ngầm.

    m56 hả muỗi thôi

    ---------- Bài thêm lúc 17:14 ---------- Bài trước là lúc 17:09 ----------

    chán mấy ông upanh quá lại mất hết hình ròi

  6. #4341
    tybeo's Avatar
    tybeo vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Chiến Bạc
    Tham gia
    Apr 2008
    Đến từ
    off vô thời hạn
    Bài
    3.532
    Cảm ơn
    2.365
    Điểm
    3.119/862 bài viết
    VR power
    0

    Default

    trùng rồi WunderWaffe 2 có tên red skull post rồi
    Chúng ta thấy tương lai tươi sáng của tổ quốc yêu dấu
    Với lý tưởng ******** bất tử
    Chúng ta sẽ mãi mãi trung thành
    Dưới lá cờ đỏ thấm của Tổ quốc vinh quang




  7. #4342
    swathai's Avatar
    swathai vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ
    Tham gia
    May 2008
    Bài
    15
    Cảm ơn
    46
    Điểm
    9/8 bài viết
    VR power
    0

    Default

    được vậy các ******** chuẩn bị đi sáp ra một triếc con kinh hơn maus đó nha

    ---------- Bài thêm lúc 18:15 ---------- Bài trước là lúc 17:42 ----------

    GW "Tiger II"

    pháo tự hành
    Năm xây dựng nguyên mẫu đầu tiên: 1945
    Giai đoạn hoàn thành: vẫn ở nguyên mẫu.

    Ngày 06 tháng năm 1942 công ty Krupp nhận được một đơn đặt hàng để sản xuất pháo nặng tự hành dựa trên thân xe "Tiger II". Trong khi sự phát triển của chiếc xe này vẫn còn ở giai đoạn đầu của khung gầm của nó đã được trưng dụng để sử dụng trong một số dự án.
    theo kế hoạch sản suất gw tiger sẽ được hoàn thành vào năm 1943
    với dự kiến sẽ có động cơ 650 mã lực của hãng maybach
    vũ khí có thể là pháo 170mm có thể bắn một quả đạn nặng 68kg với khoảng cách 25500 mét, hoặc đại bác 210mm Morser có thể bắn đạn nặng 111kg bắn tới khoảng cách 17300 mét
    góc ngẩng và hạ của cả hai loại là:-5 và +65
    còn về đạn dược do đạn quá lớn nên khi bắn phải có xe chở đạn dược chuẩn bị trước
    tổ lái:8 người
    giáp:chỗ dày nhất là 60mm
    trọng lượng xe ước tính khoảng 60 tấn
    tên thường gọi : Grille Königtiger

    xem ta trả thù sợ trưa ho ho
    Thay đổi nội dung bởi swathai; 08-03-2011 lúc 18:17.

  8. #4343
    thompson's Avatar
    thompson vẫn chưa có mặt trong diễn đàn ►♫♥Một thời ấu thơ♥♫◄
    Tham gia
    Sep 2008
    Đến từ
    Smile Kingdom
    Bài
    5.422
    Cảm ơn
    536
    Điểm
    2.409/1.432 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Em mới dc lên chức, tạm thay bác Japanese điều hành không quân Nhật đây
    Aichi M6A

    Kiểu Máy bay ném bom bổ nhào hoạt động từ tàu ngầm
    Hãng sản xuất Aichi Kokuki KK
    Chuyến bay đầu tiên 1943
    Được giới thiệu 1945
    Hãng sử dụng chính Hải quân Đế quốc Nhật Bản
    Được chế tạo 1943-1945
    Số lượng được sản xuất 28

    Chiếc Aichi M6A Seiran (晴嵐, "Mountain Haze") là một kiểu thủy phi cơ tấn công được phóng đi từ tàu ngầm được thiết kế cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản.

    Thiết kế và phát triển
    Chúng được dự định để sử dụng trên những chiếc tàu ngầm I-400, một loại tàu ngầm tải trọng 4500 tấn còn được biết như là "tàu sân bay ngầm". Hai đến ba chiếc máy bay sẽ được chứa dưới dạng các phần tháo rời, và sẽ được phóng lên bằng máy phóng. Cặp phao nổi có thể được vứt bỏ, và chiếc máy bay được hiểu như là phải hạ cánh xuống biển sau khi hoàn thành phi vụ.

    Một phiên bản với bộ càng đáp thay vì các phao nổi được phát triển với tên gọi M6A1-K Nanzan (南山, "Nam Sơn"). Trong khi hầu hết đều mô tả chúng như một phiên bản huấn luyện đặt căn cứ trên đất liền, một số nguồn cho rằng nó được thiết kế cho vai trò tấn công, được phóng từ tàu ngầm và hạ cánh trên đất liền. Bên cạnh khác biệt về bộ càng đáp, phần trên của cánh đuôi đứng, vốn được xếp lại được trên phiên bản Seiran, bị tháo bỏ.

    Lịch sử hoạt động
    Chiếc M6A1 đầu tiên được hoàn tất vào tháng 11 năm 1943, và tổng cộng có 28 chiếc (bao gồm phiên bản M6A1-K) được chế tạo cho đến năm 1945. Chúng chưa bao giờ được đưa vào sử dụng trong chiến đấu.


    Các phiên bản
    M6A1 Nguyên mẫu
    Trang bị động cơ Atsuta 30/31 công suất 1.400 mã lực và phao tháo rời được. Có tám chiếc được chế tạo.
    M6A1 Seiran
    Máy bay ném bom tấn công đặc biệt. Có 18 chiếc được chế tạo.
    M6A1-K Nanzan
    Nguyên mẫu phiên bản huấn luyện, bộ càng đáp xếp được. Có hai chiếc được chế tạo.
    M6A2
    Nguyên mẫu trang bị động cơ Mitsubishi Kinsei MK8P 62 công suất 1.560 mã lực và bộ cánh quạt ba cánh kim loại tốc độ không đổi. Có một chiếc được chế tạo.

    Đặc điểm kỹ thuật (M6A1)

    Đặc tính chung

    * Đội bay: 2 người
    * Chiều dài: 10,63 m (34 ft 11 in)
    * Sải cánh: 12,26 m (40 ft 3 in)
    * Chiều cao: 4,58 m (15 ft 1 in)
    * Diện tích bề mặt cánh: 27,0 m² (291 ft²)
    * Lực nâng của cánh : 157 kg/m² (32,2 lb/ft²)
    * Trọng lượng không tải: 3.362 kg (7.412 lb)
    * Trọng lượng có tải: 4.250 kg (9.370 lb)
    * Trọng lượng cất cánh tối đa: 4.445 kg (9.800 lb)
    * Động cơ: 1 x động cơ Aichi Atsuta Kiểu 32 bố trí hình tròn, công suất 1.400 mã lực (1.000 kW) mỗi động cơ
    Đặc tính bay

    * Tốc độ lớn nhất: 474 km/h (256 knot, 295 mph) tại 5.200 m (17.060 ft)
    * Tốc độ bay đường trường : 296 km/h (160 knots, 184 mph) ở 3.000 m (9.850 ft)
    * Tầm bay tối đa: 2.000 km (1.100 nm, 1.200 mi)
    * Trần bay: 9.900 m (32.000 ft)
    * Tỉ lệ công suất/khối lượng : 0,246 kW/kg (0,15 hp/lb)
    Vũ khí

    * 1 x súng máy Kiểu 2 13 mm (0,50 inch) gắn trên buồng lái
    * 1× ngư lôi hoặc
    * 2 × 250 kg (551 lb) hoặc 1× 850 kg (1,874 lb) bom

    No comment chứ
    Offline...
    Không có gì là mãi mãi, ngay cả VN-Zoom...

  9. #4344
    SU - 30 MKVII's Avatar
    SU - 30 MKVII vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ Đôi
    Tham gia
    Oct 2010
    Bài
    41
    Cảm ơn
    24
    Điểm
    24/13 bài viết
    VR power
    0

    Default P-38 Lightning


    Lockheed P-38 Lightning (Tia Chớp) là máy bay tiêm kích trong Thế Chiến II của Hoa Kỳ. Được phát triển theo yêu cầu của Không lực Lục quân Hoa Kỳ, P-38 có cấu trúc thật đặc biệt với 2 thân dài gắn động cơ phía trước và 1 thân giữa ngắn có khoang lái và vũ khí. Máy bay được sử dụng cho nhiều vai trò khác nhau bao gồm ném bom bổ nhào, ném bom ngang, tấn công mặt đất, trinh sát hình ảnh, cũng như dùng rộng rãi như là máy bay tiêm kích hộ tống tầm xa khi được trang bị thùng dầu phụ vứt được dưới cánh. P-38 được dùng rộng rãi và thành công nhất trên Mặt trận Thái Bình Dương và Mặt trận Trung Hoa-Miến Điện-Ấn Độ, nơi nó được lái bởi phi công Hoa Kỳ và có được số chiến công không chiến cao nhất cho đến nay. Chiếc Lightning tên "Marge" lái bởi phi công "Ách" Richard Bong đạt 40 chiến công, và tiếp sau là "Ách" Thomas McGuire với 38 chiến công trên chiếc "Pudgy". Ở khu vực Tây Nam Thái Bình Dương, P-38 là máy bay tiêm kích chủ yếu của Không lực Bộ binh Hoa Kỳ cho đến khi có mặt P-51D Mustang với số lượng lớn cho đến cuối cuộc chiến.
    Thiết kế và phát triển
    Lockheed thiết kế chiếc P-38 nhằm đáp ứng một yêu cầu của Không lực Lục quân Hoa Kỳ năm 1937 về một máy bay tiêm kích đánh chặn tầm cao, đạt tốc độ 580 km/h ở độ cao 6.100 m (360 mph ở 20.000 ft). Chiếc P-39 Airacobra của hãng Bell và P-40 Warhawk của Curtiss cũng được thiết kế để đạt được những yêu cầu này.

    Nhóm thiết kế Lockheed dưới sự chỉ đạo của Hall Hibbard và “Kelly” Johnson đã cân nhắc một loạt cấu hình trước khi tổng hợp một số thiết kế từ những máy bay tiêm kích hiện có. Nhóm Lockheed chọn thân đôi để mang các động cơ và cánh ổn định, và một thân giữa cho phi công và vũ khí. Mũi máy bay được thiết kế để mang 2 súng máy Browning M2 12,7 mm (0,50") với 200 viên đạn mỗi khẩu, 2 súng máy Brownings 7,62 mm (0,30") với 500 viên đạn mỗi khẩu, và 1 pháo Oldsmobile 37 mm với 15 quả đạn. Gắn cụm toàn bộ vũ khí trên mũi có nghĩa là khác với đa số máy bay Mỹ khác gắn súng trên cánh, nơi mà đường đạn bắn chéo nhau đến nhiều điểm trong một "vùng hội tụ", phi công Lightning cần nhắm chính xác hơn. Ví dụ, phi công "Ách" Dick Bong, người có số chiến công cao nhất nước Mỹ trong Thế Chiến II, phải bay thẳng đến mục tiêu để chắc trúng, đôi khi phải bay qua những mảnh vỡ của máy bay đối phương. Tuy nhiên, súng gắn mũi không bị giới hạn tầm bắn hiệu quả do kiểu hội tụ, nên phi công giỏi có thể bắn xa hơn. Chiếc Lightning có thể bắn trúng mục tiêu trong tầm đến 1.000 yard, trong khi các kiểu tiêm kích khác phải chọn một vùng hội tụ trong khoảng giữa 100 đến 250 yard. Cụm vũ khí cũng có tác dụng "cưa nát" mục tiêu, nên máy bay cũng có thể càn quét mặt đất.

    Đây là thiết kế máy bay tiêm kích đầu tiên sử dụng bộ bánh đáp 3 bánh, và được trang bị 2 động cơ 12-xi lanh Allison V-1710 1.000 mã lực (746 kW) turbo-siêu tăng áp với các cánh quạt xoay ngược nhau nhằm loại trừ tác động của mô-men xoắn động cơ, và bộ tăng áp gắn trong thân phía sau động cơ.
    Vào ngày 20 tháng 9 năm 1939, trước khi YP-38 hoàn tất và bay thử, Không lực Lục quân Hoa Kỳ đặt hàng 66 chiếc P-38 Lightning, 30 chiếc sẽ được giao vào giữa năm 1941, nhưng không phải tất cả được trang bị vũ khí. Những chiếc không trang bị sau đó được gắn 4 súng máy 0,50" (thay cho 2 khẩu 0,50" và 2 khẩu 0,30") và 1 pháo 37 mm. Nó cũng có kính chống đạn, vỏ giáp buồng lái và các nút điều khiển buồng lái huỳnh quang.[14] Một chiếc được trang bị buồng lái điều hòa áp lực thử nghiệm và được mang ký hiệu XP-38A. Căn cứ vào báo cáo Không lực nhận được từ Châu Âu, 36 chiếc còn lại trong loạt này được nâng cấp với những cải tiến nhỏ như thùng nhiên liệu tự hàn kín và giáp bảo vệ được tăng cường để tăng hiệu quả chiến đấu. Không lực chỉ định 36 chiếc này mang ký hiệu P-38D (và như vậy không hề có phiên bản P-38B hay P-38C). Vai trò chính của những chiếc P-38D là tìm ra lỗi và rút kinh nghiệm vận hành kiểu máy bay này.


    Tháng 3 năm 1940, Pháp và Anh đặt hàng tổng cộng 667 chiếc P-38, ký hiệu Kiểu 322F cho Pháp và Kiểu 322B cho Anh. Đó là một biến thể của P-38E mà không có turbo siêu tăng áp (vì chính sách giới hạn xuất khẩu của *********** Mỹ), và động cơ có cánh quay về bên phải thay vì ngược chiều nhau cho giống với số lượng lớn máy bay Curtiss Tomahawk mà hai nước này đặt hàng. Sau khi Pháp sụp đổ vào tháng 6 năm 1940, phía Anh lấy toàn bộ đơn đặt hàng và đặt tên lại máy bay là Lightning I (Tia Chớp I). Ba chiếc Lightning I được giao cho Anh Quốc vào tháng 3 năm 1942, và sau khi thấy rằng, không có siêu tăng áp và sử dụng xăng có chỉ số octane thấp của Anh, nó chỉ đạt được tốc độ tối đa 480 km/h (300 mph) cũng như tính năng điều khiển kém, toàn bộ đơn đặt hàng bị hủy bỏ. 140 chiếc Lightning I còn lại được hoàn thành và giao cho Không lực Lục quân Hoa Kỳ với cánh quạt quay ngược chiều nhưng vẫn không có siêu tăng áp. Nó được chuyển cho những đơn vị huấn luyện dưới ký hiệu RP-322. Những máy bay này giúp Không lực huấn luyện phi công mới bay một máy bay tiêm kích mạnh mẽ và phức tạp. RP-322 bay khá nhanh ở độ cao thấp và phù hợp để huấn luyện. Một điểm tốt trong thất bại này là tên "Lightning" được đặt cho máy bay. Lockheed ban đầu gọi nó là Atalanta theo truyền thống công ty đặt tên máy bay của họ những cái tên trong thần thoại và hình tượng thiên đàng, nhưng tên của Không lực Hoàng gia Anh đã thắng cuộc.
    Lịch sử hoạt động


    Đơn vị đầu tiên nhận được P-38 là Nhóm Máy bay Tiêm kích số 1. Sau trận Trân Châu Cảng, đơn vị được sáp nhập vào Nhóm Chiến đấu số 14 tại San Diego để phòng thủ Bờ Tây
    Tham gia vào cuộc chiến


    Chiếc Lightning đầu tiên phục vụ tác chiến là phiên bản F-4, là kiểu P-38E mà 4 máy ảnh được thay cho súng máy. Nó gia nhập Phi Đội Không Ảnh số 8 tại Australia ngày 4 tháng 4 năm 1942. 3 chiếc F-4 được Không quân Hoàng gia Australia sử dụng trên chiến trường này trong một giai đoạn ngắn từ tháng 9 năm 1942.

    Ngày 29 tháng 5 năm 1942, 25 chiếc P-38 bắt đầu hoạt động tại quần đảo Aleutian, Alaska. Tầm bay xa của máy bay này khiến nó rất phù hợp trong chiến dịch trên chuỗi quần đảo kéo dài đến gần 2.000 km (1.200 dặm), và nó phục vụ ở đấy cho đến hết cuộc chiến. Aleutian là một trong những nơi có hoàn cảnh khó khăn nhất để thử nghiệm kiểu máy bay mới trong điều kiện chiến đấu. Có nhiều chiếc Lightning bị mất do thời tiết khắc nghiệt và những hoàn cảnh khác hơn là do đối địch, và có những trường hợp phi công Lightning, mãi mê bay nhiều giờ trên biển xám dưới bầu trời xám, đơn giản là bay luôn xuống nước. Vào ngày 9 tháng 8 năm 1942, 2 chiếc P-38E của Phi đội 343, Không đoàn 11, sau chuyến bay tuần tra dài 1.600 km (1.000 dặm) bỗng bất ngờ gặp 2 chiếc thủy phi cơ Kawanishi H6K "Mavis" Nhật Bản và tiêu diệt chúng luôn,[10] đánh dấu chiếc máy bay Nhật Bản đầu tiên bị Lightning bắn rơi.
    Mặt trận Châu Âu


    Sau trận Midway, Không lực Lục quân Hoa Kỳ bắt đầu bố trí các đơn vị tiêm kích tới Anh Quốc như là một phần của Chiến dịch Bolero, và Lightning của Liên đội Tiêm kích số 1 bay vượt Đại Tây Dương ngang qua Iceland. Vào ngày 14 tháng 8, 1 chiếc P-38F và 1 chiếc P-40 hoạt động ngoài khơi Iceland đã bắn hạ 1 chiếc Focke-Wulf Fw 200 Condor xuống Đại Tây Dương, đánh dấu chiếc máy bay Đức Quốc Xã đầu tiên bị Không lực Bộ binh Hoa Kỳ bắn rơi.


    P-38 Lightning có được những lần thoát hiểm may mắn, ví dụ như dịp Phi đội Tiêm kích 71 đến đóng tại Goxhill (Lincolnshire, Anh Quốc) vào tháng 7 năm 1942. Buổi lễ bàn giao chính thức dự định vào một ngày giữa tháng 8, nhưng vào ngày hôm trước, Goxhill chịu đựng cuộc oanh tạc duy nhất trong cuộc chiến. Một máy bay ném bom Đức duy nhất bay trên đầu và thả một quả bom nhắm rất khéo trúng chỗ giao nhau của 2 đường băng bê tông mới, nhưng quả bom không nổ và những chiếc máy bay vẫn được tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. (Sau này mới rõ, không thể lấy quả bom đi, nên trong suốt cuộc chiến máy bay phải vòng qua tránh nó mỗi khi cất cánh.)


    Sau 347 phi vụ mà không gặp địch, các Liên đội Tiêm kích số 1, 14 và 82 được chuyển sang Không Đoàn 12 tại Bắc Phi như một phần của lực lượng được xây dựng cho Chiến dịch Torch. Ngày 19 tháng 11 năm 1942, Lightning hộ tống B-17 thả bom Tunis. Ngày 5 tháng 4 năm 1943, 26 chiếc P-38F của Liên đội 82 tiêu diệt 31 máy bay địch, giúp khống chế bầu trời khu vực, và được phía Đức gán tên lóng là "der Gabelschwanz-Teufel" (tên Quỷ Đuôi Chẻ). P-38 tiếp tục hoạt động tại Địa Trung Hải cho đến hết chiến tranh.


    Những kinh nghiệm tại Đức cho thấy nhu cầu cần có máy bay tiêm kích hộ tống tầm xa để bảo vệ những chiếc máy bay ném bom hạng nặng của Không lực 8. Những chiếc P-38H thuộc Liên đội Tiêm Kích 55 được chuyển sang Không lực 8 tại Anh vào tháng 9 năm 1943, và có thêm các nhóm 20, 364 và 479 không lâu sau đó.

    Trên chiến trường Địa Trung Hải, phi công Ý bắt đầu đối mặt P-38 từ cuối năm 1942 và xem kiểu máy bay này là một kẻ thù dữ dội, ngay cả khi so sánh với những chiếc tiêm kích nguy hiểm khác bao gồm Supermarine Spitfire. Một số nhỏ P-38 rơi vào tay các đơn vị Đức và Ý, sau đó được thử nghiệm và được dùng trong chiến đấu. Đại tá Tondi bay một chiếc P-38, có lẽ kiểu "E", đã hạ cánh tại Sardinia do sai lầm trong dẫn đường. Tondi khai rằng đã bắn rơi ít nhất 1 chiếc B-24 ngày 11 tháng 8 năm 1943. Những chiếc P-38 đó sau này được Ý sử dụng sau chiến tranh.


    P-38 hoạt động tốt trên chiến trường Châu Âu cho dù bị áp đảo về số đông đến 10 chọi 1, và thường xuyên bị hỏng động cơ, một phần do không thể dung nạp nhiên liệu phẩm chất thấp của Châu Âu. Nhiều vấn đề của máy bay được khắc phục ở phiên bản P-38J, nhưng vào tháng 9 năm 1944, tất cả ngoại trừ một nhóm Lightning của Không lực 8 chuyển qua sử dụng P-51. Không lực 8 vẫn dùng những chiếc F-5 thành công
    Mặt trận Thái Bình Dương


    P-38 được dùng rộng rãi và thành công nhất tại Mặt trận Thái Bình Dương, nơi nó chứng minh là phù hợp một cách lý tưởng, kết hợp tính năng bay xuất sắc và tầm bay rất xa. P-38 được ghi nhận tiêu diệt nhiều máy bay Nhật nhất so với các kiểu tiêm kích của Không quân khác.[1] Buồng lái lạnh cóng không là vấn đề ở vùng nhiệt đới. Trong thực tế, vì không có cách nào mở nóc kính buồng lái khi đang bay vì sẽ gây rung lắc do nhiễu động khí học cánh đuôi, thường rất nóng, và phi công hay bay với trang phục quần shorts, mang giầy tennis và đeo dù. Trong khi chiếc P-38 không thể cơ động hơn Mitsubishi Zero và đa số máy bay tiêm kích Nhật khác, vận tốc và tốc độ lên cao cho phép cho phép phi công Mỹ lựa chọn chiến đấu hay bỏ chạy, và sức mạnh hỏa lực tấn công tập trung càng chết người hơn cho những chiếc máy bay Nhật bọc giáp yếu hơn là máy bay Đức. Jiro Horikoshi, người thiết kế Zero, đã viết: "Âm thanh đặc biệt của đôi động cơ của chiếc P-38 trở nên vừa quen thuộc vừa căm ghét đối với người Nhật dọc theo cả vùng Nam Thái Bình Dương."

    Vào ngày 2 đến 4 tháng 3 năm 1943, P-38 bay yểm trợ cho nhóm máy bay ném bom và tấn công của Không lực 5 và Australia trong trận đánh biển Bismarck, một thất bại tan nát của Nhật. Hai phi công "Ách" P-38 của Phi Đội Tiêm kích 39 bị giết vào ngày thứ hai của trận đánh: Bob Faurot và Hoyt "Curley" Eason (phi công kỳ cựu với 5 chiến tích và đã huấn luyện hằng trăm phi công, trong đó có Dick Bong).

    Tướng George C. Kenney, Chỉ huy trưởng Không lực 5 Lục quân Hoa Kỳ tại New Guinea, không có đủ số máy bay P-38, mặc dù nó chỉ dùng thay thế những chiếc P-39 và P-40 còn hoạt động được nhưng không đủ. Phi công Lightning bắt đầu cạnh tranh nhau ghi điểm hạ máy bay Nhật.


    Phục kích Yamamoto Isoroku
    Lightning có mặt ở một trong những phi vụ nổi bật của Mặt trận Thái Bình Dương: vụ phục kích vào ngày 18 tháng 4 năm 1943 giết chết Đô Đốc Yamamoto Isoroku, nhà kiến trúc của chiến lược hải quân Đế quốc Nhật Bản tại Thái Bình Dương, kể cả trận đánh Trân Châu Cảng. Khi máy giải mã của Hoa Kỳ tìm thấy ông đang bay đến đảo Bougainville để thị sát mặt trận, 16 chiếc Lightning được gửi đến trong một phi vụ tấn công đánh chặn tầm xa, bay 700 km (435 dặm) từ đảo Guadalcanal ở độ cao cách mặt biển 3-15 m (10-50 ft) để tránh bị phát hiện. Những chiếc Lightning bắt gặp chiếc máy bay ném bom Mitsubishi G4M "Betty" của Yamamoto cùng những chiếc Zero hộ tống ngay khi chúng vừa đến. Bốn chiếc tấn công những máy bay ném bom, hạ chiếc Betty trên rừng rậm, trong khi 12 chiếc kia yểm trợ trên không. Thành tích phục vụ

    Thành tích phục vụ của P-38 cho thấy những kết quả trái ngược. Ở mặt tiêu cực, hầu hết các biến thể đều khó lái hơn những chiếc tiêm kích 1 động cơ tốt nhất, và ở những phiên bản ban đầu, phi công bị lạnh cóng ở thời tiết phía bắc. Thêm nữa, cặp động cơ Allison có vấn đề – một số lớn Lightning bị mất trong chiến tranh do hỏng động cơ hơn là do đạn quân thù, làm cho máy bay có chỉ số thắng-thua tương đối thấp. Cho đến phiên bản -J-25, P-38 thường là "con vịt mồi" cho máy bay tiêm kích Đức vì động cơ yếu kém và thiếu bộ phanh bổ nhào để chống rung động. Phi công tiêm kích Đức thường né tránh bằng cách đâm bổ dài vì họ biết chiếc Lightning sẽ miễn cưỡng để bám theo.


    Dù không là máy bay không chiến tốt nhất, ưu điểm lớn nhất của Lightning là tầm bay xa, chở nặng, vận tốc nhanh, tốc độ lên cao và hỏa lực tập trung. P-38 là chiếc máy bay tiêm kích và ném bom dữ dội, và khi trong tay một phi công giỏi, là mối đe dọa nguy hiểm trong không chiến. Trên mặt trận Thái Bình Dương, P-38 bắn rơi hơn 1.800 máy bay Nhật, và có hơn 100 phi công "Ách" vì hạ được 5 máy bay hay nhiều hơn.

    Đặc điểm kỹ thuật (P-38L)


    Đặc điểm chung

    * Đội bay: 01 người
    * Chiều dài: 11,53 m (37 ft 10 in)
    * Sải cánh: 15,85 m (52 ft 0 in)
    * Chiều cao: 3,00 m (9 ft 10 in)
    * Diện tích bề mặt cánh: 30,43 m² (327,5 ft²)
    * Kiểu cánh: NACA 23016 / NACA 4412
    * Diện tích cản: 0,82 m² (8,78 ft²)
    * Hệ số nâng/lực cản: 0,0268
    * Tỉ lệ dài/rộng cánh: 8,26
    * Áp lực cánh : 260,9 kg/m² (53,4 lb/ft²)
    * Trọng lượng không tải: 5.800 kg (12.780 lb)
    * Trọng lượng có tải: 7.940 kg (17.500 lb)
    * Trọng lượng cất cánh tối đa: 9.798 kg (21.600 lb)
    * Động cơ: 2 x động cơ Allison V-1710-111/113 V-12 turbo tăng áp, làm mát bằng chất lỏng, công suất 1.600 mã lực (1.194 kW) mỗi động cơ

    Đặc tính bay

    * Tốc độ lớn nhất: 667 km/h (414 mph) ở độ cao 7.620 m (25.000 ft)
    * Tốc độ chòng chành: 170 km/h (105 mph)
    * Tầm bay tối đa: 3.640 km (2.600 mi)
    * Bán kính chiến đấu: 1.770 km (1.100 mi)
    * Trần bay: 13.400 m (44.000 ft)
    * Tốc độ lên cao: 24,1 m/s (4.750 ft/min)
    * Tỉ lệ công suất/khối lượng: 0,27 kW/kg (0,16 hp/lb)
    * Tỉ lệ lực nâng/lực cản: 13,5

    Vũ khí

    * 1 × pháo Hispano M2(C) 20 mm với 150 quả đạn (tuần tự 2 đạn AP, 2 đạn pháo sáng và 2 đạn HE), tốc độ bắn 650 quả mỗi phút với đầu đạn 130 g và tốc độ đường đạn 880 m/s.
    * 4 x súng máy Colt-Browning MG53-2 12,7 mm (0,50 in) với 500 viên đạn mỗi khẩu, tốc độ bắn 850 viên mỗi phút và tốc độ đường đạn 840 m/s.
    * 4 x ống phóng rocket M10 x 3 rocket 112 mm (4,5 in), hoặc:
    * 10 x Rocket máy bay tốc độ cao 127 mm (5 in) HVAR, và/hoặc:
    * bom: chọn lựa 2 x 908 kg (2.000 lb), 2 x 454 kg (1.000 lb), 4 x 227 kg (500 lb) hay 4 x 114 kg(250 lb)

  10. #4345
    swathai's Avatar
    swathai vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ
    Tham gia
    May 2008
    Bài
    15
    Cảm ơn
    46
    Điểm
    9/8 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Tên lửa không đối không Ruhrstahl X-4

    X-4 là loại tên lửa không đối không điều khiển bằng dây dẫn do quân đội phát xít Đức phát triển để trang bị cho các máy bay chiến đấu; được lắp một động cơ BMW 109-448 cho phép chúng duy trì tốc độ 1150km/h trong suốt “hành trình” bay. Tầm bắn của tên lửa vào khoảng 1.5-4km. X-4 được trang bị một đầu đạn nổ văng mảnh 20kg, bán kính sát thương 8m.


    Tên lửa không đối không điều khiển bằng dây dẫn X-4

    X-4 được điều khiển theo phương thức MCLOS (Manual command to line of sight), mà ở đó, xạ thủ sẽ điều khiển tên lửa thủ công từ lúc rời bệ phóng đến lúc trúng mục tiêu, các lệnh được truyền qua dây dẫn.

    Nếu được đưa vào sử dụng, X-4 có thể gây rất nhiều khó khăn cho quân đồng minh, đơn giản ở thời điểm các máy bay tham gia không chiến chủ yếu trang bị súng với tầm bắn hiệu quả lớn nhất trong cự ly 1.000m. Tuy nhiên, X-4 đã không bao giờ được đưa vào trang bị chính thức, và nó cũng chưa một lần tham chiến.

    Sau chiến tranh, quân đội Pháp đã tự phát triển một phiên bản nội địa dựa trên X-4 và đặt tên nó là AA-10. Từ 1947 tới 1950, đã có 200 quả được sản xuất. Nhưng một lần nữa chương trình này lại tiếp tục bị huỷ bỏ

    tên lửa Ruhrstahl X-4 được trang bị trên máy bay đức
    thôi món này không phải lĩnh vực của em nhưng em viện trợ bác thomson đó nha
    Thay đổi nội dung bởi swathai; 09-03-2011 lúc 20:04.

  11. #4346
    tybeo's Avatar
    tybeo vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Chiến Bạc
    Tham gia
    Apr 2008
    Đến từ
    off vô thời hạn
    Bài
    3.532
    Cảm ơn
    2.365
    Điểm
    3.119/862 bài viết
    VR power
    0

    Default

    ISU-152


    ISU-152 là một pháo tự hành bọc thép của Liên Xô dùng trong Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Sau chiến tranh, ISU-152 tiếp tục được sử dụng - chủ yếu trong quân đội Liên Xô - mãi đến thập niên 1970.

    Quá trình hình thành

    Dòng pháo tự hành này xuất hiện lần đầu vào ngày 24 tháng 1 năm 1943 và đó cũng là thời điểm xuất hiện của thành viên đầu tiên của dòng xe thiết giáp này. Tên của nó là Kế hoạch 236 (Объект 236), được chế tạo xong vào ngày 24 tháng 1 năm 1943 ở nhà máy số 100 tại Chelyabinsk và cùng ngày đó trải qua các cuộc kiểm tra tại trường bắn pháo binh Chebarkulski cách Chelyabinsk 107 cây số. Đến ngày 7 tháng 2 năm 1943 các buổi kiểm tra kết thúc tốt đẹp. Ngày 14 tháng 2 mẫu pháo tự hành được đưa vào sản xuất với cái tên KV-14 (КВ-14). Vào tháng 4 năm 1943, KV-14 được đổi tên thành SU-152 (СУ-152). Sau đó, Liên Xô nhận thấy khả năng tác chiến của SU-152 - với thân xe lấy từ xe tăng KV-1S - cần được cải thiện; cụ thể là lấy thân xe của xe tăng Iosif Stalin làm thân xe của pháo. Vào ngày 25 tháng 5 năm 1943, ******** của nhà máy số 100 yêu cầu thực hiện quá trình hiện đại hóa SU-152, trong đó bao gồm việc tăng độ dày vỏ giáp cùng với nhiều cải tiến khác. Quá trình phát triển bắt đầu từ tháng 7 năm 1943 dưới sự giám sát của Joseph Yakovlevich Kotin (thiết kế trưởng của các xe tăng hạng nặng Liên Xô) còn G. N. Moskvin là thiết kế trưởng. Mẫu thiết kế mới được hoàn thành trong vòng một tháng với cái tên IS-152 (ИС-152). Tuy nhiên sau những đợt kiểm tra vào tháng 9 cùng năm, mẫu IS-152 bộc lộ nhiều khuyết điểm và được yêu cầu phải chỉnh sửa sâu rộng hơn. Đến tháng 10 năm đó, một phiên bản nâng cấp khác mang tên Kế hoạch 241 (Объект 241) ra đời. Nó trải qua các đợt kiểm tra trong nội bộ nhà máy vào củng tháng và sau đó là các đợt kiểm tra ở cấp độ quốc gia tại bãi thử Gorohovetskom. Sau cùng, ngày 6 tháng 11 năm 1943, mẫu cải tiến này được chấp thuận đưa vào sản xuất với cái tên ISU-152 (ИСУ-152) và quá trình sản xuất nó bắt đầu tại nhà máy Chelyabinsk Kirovsk vào tháng 12.


    Thiết kế

    Tại phiên họp ngày 15 tháng 4 năm 1942 của Hội đồng pháo binh; ý kiến về việc phát triển loại pháo công kích nhằm hỗ trợ cho bộ binh đã được đề cập; đồng thời lúc đó Liên Xô cũng nhận thức được tầm quan trọng của những pháo công kích có khả năng tiêu diệt các công sự vững chắc của đối phương. Những khẩu pháo công kích này dự tính sẽ mang nòng pháo cỡ 152,4 ly và được dùng để chọc thủng các phòng tuyến của quân phát xít trong các đợt tấn công trong năm 1942-43. Kết quả của quá trình phát triển loại pháo này là Kế hoạch 236, sau cùng là SU-152 - loại pháo tự hành mà về sau phát triển thành ISU-152.

    ISU-152 có thiết kế tương tự như các pháo tự hành Xô Viết khác - ngoại trừ SU-76. Thân xe bọc giáp hoàn toàn và được chia làm hai phần: khoang tác chiến là chỗ ngồi của kíp lái, nơi đặt súng và đạn dược, nằm ở phía trước; khoang động cơ và hệ thống truyền động ở phía sau. Pháo được đặt ở trung tâm của xe, hơi nhích về bên phải 12 độ. Kíp lái khoảng 4-5 người với 3 người ở bên trái pháo chính (lái xe ở phía trước, ở giữa là pháo thủ và sau cùng là người nạp đạn), còn xa trưởng và người phụ trách khóa nòng thì ở bên phải xe (xa trưởng ở phía trước người phụ trách khóa nòng). Trong trường hợp kíp lái có 4 người, người phụ trách khóa nòng sẽ kiêm luôn vai trò nạp đạn.

    Hệ thống treo của ISU-152 bao gồm 12 thanh xoắn dùng cho 6 bánh xe ở mỗi bên. Bánh răng truyền động đặt ở phía sau, và bánh xe dẫn hướng có hình dạng giống hệt như bánh xe chạy trên đường. Mỗi dây xích gồm 90 mắt xích. Có 3 khoang nhiên liệu nằm ở bên trong pháo, trong đó 2 khoang ở khu vực dành cho kíp lái và 1 khoang ở khu vực dành cho động cơ. Ngoài ra, ISU-152 cũng có thêm 4 khoang nhiên liệu độc lập được đặt bên ngoài pháo. Nguồn điện 12 và 24 vôn được cung cấp từ một thiết bị phát điện công suất 1kW nạp cho 4 ắc quy.

    Để tổ lái có thể quan sát từ phía trong, mỗi cửa sập của ISU-152 đều được trang bị kính tiềm vọng, đồng thời ISU-152 cũng được trang bị 2 thiết bị ngắm bắn: một kính ngắm quang học ST-10 và một kính ngắm toàn cảnh. Hệ thống điện thoại nội bộ TPU-4-BisF được trang bị để liên lạc giữa mỗi thành viên trong tổ lái, và một bộ đàm sóng vô tuyến 10R hay 10RK được dùng để liên lạc với tổ lái của các xe khác. Các thiết bị này rõ ràng tân tiến hơn so với đầu chiến tranh, mặc dù vẫn còn thua kém so với địch thủ Đức.

    Để tự vệ và tác chiến tầm gần, tổ lái được cung cấp hai khẩu súng tiểu liên cỡ nhỏ PPSh-41 với cơ số đạn 1491 viên cùng 20 lựu đạn F1.

    Pháo chính của ISU-152 giống như SU-152, còn thân xe của ISU-152 là thân của xe tăng IS-1, sau đó là IS-2 hay IS-2 phiên bản 1944 thay cho KV-1S. Về sau ISU-152 được nâng cấp thêm: nó sử dụng thân xe của IS-2 or IS-2 mẫu 1944; giáp trụ được tăng cường; pháo chính được thay thế bằng loại mới hơn; một khẩu đại liên phòng không a 12,7 x 108 ly DShK được gắn trên cửa sập ở phía trước; cơ số đạn và số nhiên liệu chứa trong xe cũng tăng lên; hệ thống bộ đàm 10R được nâng cấp thành phiên bản 10RK.

    Một số pháo tự hành ISU-152 được lắp đặt những khoang nhiên liệu bên ngoài xe còn lớn hơn nữa, với hai khoang ở phía sau thân xe cộng với 4 khoang nhiên liệu bên ngoài (mỗi khoang tối đa 90 lít) hay với hai khoang nhiên liệu nhỏ hơn được lắp đặt bên ngoài phần đuôi thân xe. Những sự nâng cấp này có lẽ được thực thi đối với các phiên bản ISU-152 sau chiến tranh.

    Giữa tháng 12 năm 1943 tới tháng 5 năm 1945, 1.885 pháo tự hành ISU-152 đã được sản xuất. Việc sản xuất đạt trà ISU-152 chấm dứt vào năm 1947, lúc đó tổng số lượng của nó đã là 3.242 khẩu.

    Các phiên bản hiện đại hóa ISU-152 sau chiến tranh bao gồm một thiết bị nhìn đêm, thay thế động cơ V-2IS bằng V-54K, khẩu đại liên 12,7 ly được thay thế bằng phiên bản mới hơn, cơ số đạn tăng lên 30 viên, vỏ giáp được tăng cường, máy móc tự động được cải tiến và số nhiên liệu chứa trong pháo tăng lên rất đáng kể.


    Các phiên bản

    ISU-152


    Phiên bản đầu tiên, được phát triển vào năm 1943. Tên của phiên bản này là "Kế hoạch 241" (Объект 241). Nó được trang bị một khẩu pháo ML-20S (МЛ-20С) 152,4 ly với nòng súng dài hơn 4,2 mét (27,9 calibre) và cơ số đạn 21 viên gồm cả 2 loại: đạn xuyên giáp và đạn nổ. Tầm bắn tối đa của khẩu pháo là 6.200 mét. Loại đạn xuyên giáp, nặng 48,78 kg có sơ tốc đầu nòng 600 m/giây và có thể xuyên tối đa 125 ly giáp thép cán đồng nhất dựng vuông góc với mặt đất ở khoảng cách 500 mét. ISU-152 có một số sửa đổi đối với pháo chính (pháo phiên bản mới hơn), số lượng cửa sập trên thân xe (dựa theo thân xe tăng IS-1, IS-2, IS-2 mẫu 1944). Giáp bảo vệ pháo trở nền dày hơn và dung tích khoang chứa nhiên liệu lớn hơn. Cho đến tháng 5 năm 1944 pháo chính của ISU-152 là loại ML-20 152,4 ly mẫu 1947. Tốc độ bắn của ISU-152 là 2-3 viên/phút. Phiên bản cải tiến sớm nhất có 3 cửa sập trên nóc thân xe và một cửa sập thoát hiểm bọc giáp ở dưới chỗ ngồi của lái xe. Về sau một cửa sập thứ tư hình tròn được lắp đặt bên phải nóc thân xe, nằm ở kế bên một cửa sập hình chữ nhật ở bên trái. Các phiên bản ISU-152 về sau sử dụng các loại pháo mới hơn với nòng dài hơn - có thể tới 4,9 mét (32,3 calibre) và có tầm bắn tối đa lên tới 13 nghìn mét.


    ISU-152-2


    Phiên bản thử nghiệm phát triển vào năm 1944. Trong một nỗ lực nhằm cải thiện hỏa lực của ISU-152, tháng 4 năm 1944 một phiên bản mang tên ISU-152BM (ИСУ-152БМ) (ISU-152BM) - một số tài liệu gọi là ISU-152BM-1 hay ISU-152-1 được phát triển. Chữ "BM" ("БМ") là viết tắt của "Большой Мощности", có nghĩa là "sức mạnh lớn". Mục đích chính của ISU-152BM nhằm đối đầu với các pháo tự hành chống tăng có vỏ giáp chắc chắn của phát xít Đức như Elefant và Jagdpanzer VI Jagdtiger. Nó được trang bị pháo chính là khẩu BL-8 (БЛ-8) 152,4 ly nòng dài với tổng chiều dài 8 mét và độ dài nòng là 46 calibre; đây là khẩu pháo không cùng loại với ISU-152 nguyên bản. Nó có tầm bắn tối đa là 18.500 mét. ISU-152BM có cơ số đạn 21 viên, với loại đạn xuyên giáp nặng 48.,8 kg và có sơ tốc đầu nòng 850 m/giây. Tên hiệu của ISU-152BM là "Kế hoạch 246" (Объект 246). ISU-152BM sử dụng động cơ, hệ thống truyền động, bánh dẫn động và các thiết bị điện tử của ISU-122. Trong quá trình kiểm tra các kết quả ISU-152BM tỏ ra không đạt yêu cầu, nguyên do là tổ lái gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng, hệ thống *** đầu nòng không đáng tin cậy, chiều dài nòng quá cỡ khiến pháo trở nên kém linh hoạt. Vào tháng 8 năm 1944 khẩu BL-8 được thay thế bằng khẩu BL-10 (БЛ-10) cùng cỡ nòng, với đạn đạo giống như cũ nhưng có những cải tiến như hệ thống *** đầu nòng và khóa nòng mới mới. Phiên bản này mang tên ISU-152-2 (ИСУ-152-2) (ISU-152-2) và tên hiệu là "kế hoạch 247" (Объект 247). Tuy nhiên các kết quả kiểm tra cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề; sau đó tuy ISU-152-2 đã trải qua một quá trình cải tiến sâu rộng hơn nhưng nó không bao giờ được đưa vào sử dụng. Hiện nay phiên bản ISU-152 này được trưng bày ở Bảo tàng xe tăng Kubinka.


    ISU-152 mẫu 1945


    Một phiên bản thử nghiệm khác cũng được phát triển vào năm 1945. Phiên bản này tích hợp những đặc điểm của các loại xe tăng IS-2 và IS-3. Chiều cao của pháo tự hành giảm xuống còn 2240 ly nhưng chiều rộng được tăng lên để đảm bảo không gian. Tên hiệu của phiên bản này là "Kế hoạch 704" (Объект 704). Pháo chính của "kế hoạch 104" là loại ML-20SM mẫu 1944 (МЛ-20СМ обр. 1944 г.) cỡ nòng 152,4 ly, với chiều dài súng là 4,5 mét (29,6 calibre) và không có hệ thống *** đầu nòng, điều này giúp tăng cường hỏa lực của pháo. Tầm bắn tối đa của ISU-152 mẫu 1945 là 13 nghìn mét. Loại pháo tự hành này mang một cơ sớ đạn là 20 viên, bao gồm cả 2 loại đạn là đạn xuyên giáp và đạn nổ. Loại đạn xuyên giáp cân nặng 48,78 kg và có sơ tốc đầu nòng là 655 m/giây. Tốc độ bắn chừng 1-2 viên/phút. ISU-152 mẫu 1945 có 4 cửa sập trên nóc thân xe và 1 cửa sập thoát hiểm bọc giáp ở phía dưới thân, phía sau chỗ ngồi của người lái. Nó mang hai khoang nhiên liệu gắn phía ngoài pháo (mỗi khoang 90 lít) và tách biệt hoàn toàn với khoang nhiên liệu bên trong. Vũ khí phụ của pháo tự hành là 2 khẩu đại liên DShK 12,7 x 108 ly, một dùng để phòng không và một đồng trục quay với pháo chính. Vỏ giáp của pháo tự hành được làm dày hơn ở more radical angles. Tại vị trí của khẩu súng chính, nơi phần lá chắn kết hợp với phần trước thân xe ở sau nó và là nơi xảy ra cơ chế giật lùi, độ dày của vỏ giáp là 320 ly. ISU-152 mẫu 1945 (ИСУ-152 обр. 1945 г.) [5] là loại pháo tự hành có lớp vỏ giáp chắc chắn nhất của Liên Xô trong Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Tuy nhiên, độ nghiêng quá lớn của thân xe cộng với độ giật lùi quá mạnh của pháo chính (do thiếu bộ phận *** tốc đầu nòng) khiến cho việc tác chiến của tổ lái trở nên quá phức tạp - đây là nguyên do chính khiến ISU-152 mẫu 1945 không được đưa vào sử dụng. Hiện nay phiên bản này được trưng bày tại Bảo tàng xe tăng Kubinka


    ISU-152K

    Một phiên bản hiện đại hóa của ISU-152 đời đầu được phát triển vào năm 1953. Nó sử dụng động cơ mới của T-54 với một hệ thống làm mát và hệ thống làm nóng. Dung tích của khoang nhiên liệu bên trong xe tăng lên đến 920 lít, khiến tầm tác chiến của pháo tự hành tăng thêm 500 cây số trên đường nhựa. Một khoang nhiên liệu nằm ở khoang của tổ lái bị dỡ bỏ, khoảng trống này giúp cơ số đạn mang được tăng lên 30 viên. Tầm bắn tối đa của pháo là 13 nghìn mét. ISU-152K có một vòm mới dành cho khoang chỉ huy và trang bị thiết bị ngắm mới. Tên hiệu của ISU-152K là "Kế hoạch 241K" (Объект 241К). Bánh xe dẫn động tích hợp nhiều đặc điểm cấu tạo của xe tăng hạng nặng T-10. Lá chắn của pháo có thêm giáp trụ bảo vệ chỗ ngắm bắn. Một số chiếc ISU-152K có thêm một lớp giáp 15 ly hàn vào phía trên lớp giáp 60 ly bao phủ lá chắn. Đồng thời, một vài chiếc trong số chúng có thạm một lớp giáp hàn vào the upper mantlet front. Việc hiện đại hóa ISU-152 được thực thi tại Nhà máy xe tăng Kirov Leningrad.


    ISU-152M

    Phiên bản cuối cùng của dòng ISU-152, được phát triển vào năm 1959 tại Nhà máy Chelyabinsk Kirovsk. Quá trình hiện đại hóa được tiến hành song song với chương trình IS-2M và vì vậy ISU-152M tích hợp nhiều đặc điểm của IS-2M. Tên hiệu của ISU-152M là"kế hoạch 241M" (Объект 241М). Việc hiện đại hóa ISU-152M bao gồm việc trang bị thêm thiết bị nhìn đêm, tăng cơ số đạn cho khẩu đại liên 12,7 ly - lần này là loại đại liên cải tiến DShKM, và nâng cấp các máy móc tự động bên trong pháo. Nó có vòm chỉ huy và thiết bị ngắm giống như ISU-152K và cũng có dung tích khoang nhiên liệu chính bên trong pháo là 920 lít, tầm tác chiến tăng thêm 500 cây số trên đường nhựa và cơ số đạn tăng lên 30 viên do việc loại bỏ một khoang nhiên liệu phụ nằm ở khoang của tổ lái. Tầm bắn của pháo tự hành là 13 nghìn mét. Bộ phận bảo vệ thiết bị ngắm được tích hợp và giáp của the upper mantlet front được tăng cường bởi một tấm giáp dày hơn. The ISU-152M cũng dùng loại động cơ V-54K nhưng không có thiết bị làm mát


    Vai trò


    Trong chiến đấu ISU-152 thực thi ba vai trò: pháo công kích hạng nặng, pháo tự hành chống tăng hạng nặng và pháo tự hành hạng nặng. Khẩu pháo 152,4 ly sửa dụng những loại đạn (gồm thuốc phóng và đầu đạn) có sức công phá mạnh, trong số đó có loại đạn nổ nặng đến 43,56 kg và đạn xuyên giáp nặng 48,78 kg; loại đạn lõi cứng tầm xa 53-G-545 (53-Г-545) là nặng nhất với khối lượng đầu đạn 56 kg. ISU-152 được dùng để hỗ trợ cho bộ binh, xe tăng và dùng để phá hủy các công sự địch bằng những loạt bắn trực tiếp; dùng trong vai trò trợ chiến với cách bắn gián tiếp; và dùng đế chống tăng bằng loạt bắn trực tiếp.



    Pháo công kích hạng nặng


    Trong vai trò này, ISU-152 là một vũ khí quý giá của Hồng quân Xô Viết trong các trận đánh trên đường phố như trận Berlin, trận Budapest và trận Königsberg. Giáp trụ tốt của ISU-152 đã cung cấp sự bảo vệ tốt cho khu vực xung quanh khẩu pháo chính trước các loại pháo chống tăng Đức, điều này cho phép nó tiến gần hơn vào trận địa và tiêu diệt quân địch bằng những loạt bắn trực tiếp với sức nổ của loại đạn HE có khả năng phá tan tác ngay cả những công sự mạnh nhất của quân địch. Đối với các loại pháo kéo việc bắn phá như vậy rõ ràng là nguy hiểm hơn và kém hiệu quả hơn vì độ cơ động thấp và khẩu đội dễ bị tổn thương trước hỏa lực địch, đồng thời các loại tăng vì hỏa lực kém hơn cũng không thích hợp bằng ISU-152 trong vai trò này. Trong vai trò hỗ trợ xe tăng, chiến thuật thông thường của Hồng quân Xô Viết là bố trí ISU-152 ở tuyến sau, cách các xe tăng trong lực lượng xung kích (thường là các loại tăng IS có độ cơ động tương đương) chừng 100-200 mét.
    Giống như SU-152 và ISU-122, ISU-152 được phiên chế trong các Trung đoàn Pháo tự hành hạng nặng Độc lập. Từ tháng 5 năm 1943 đến năm 1945, 53 trung đoàn như vậy đã được thành lập. Một phần trong số đó có nguồn gốc từ các trung đoàn xe tăng được tái tổ chức, và sử dụng chiến thuật bắn phá trực tiếp mục tiêu giống như các xe tăng hay làm khi hỗ trợ bộ binh. Mỗi trung đoàn có 21 pháo tự hành, được chia làm 4 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn 5 khẩu và 1 khẩu pháo dành cho chỉ huy. Phần hậu cần của các trung đoàn được lo bởi một đội ngũ binh sĩ sử dụng các xe cơ giới không bọc giáp bao gồm xe tải, xe jeep và xe gắn máy hai bánh. Vào tháng 12 năm 1944, các Lữ đoàn Pháo tự hành Cận vệ hạng nặng được thành lập với nhiệm vụ hỗ trợ cho các Tập đoàn quân xe tăng. Chúng được tổ chức theo mô hình của các lữ đoàn xe tăng với biên chế 65 khẩu ISU-152 hay ISU-122.
    Để giảm thiểu khả năng bị tổn thương bởi lính chống tăng Đức trang bị Panzerfaust trong các trận chiến đường phố, các khẩu đội ISU-152 thường chiến đấu theo đội hình từ 1-2 cụm tác chiến bên cạnh các đơn vị bộ binh bảo vệ chúng. Trong các đơn vị bộ binh sẽ có một người lính bắn tỉa (hoặc ít nhất là một xạ thủ giỏi), vài binh sĩ sử dụng súng tiểu liên hạng nhẹ và đôi khi là một người lính dùng súng phun lửa. Khẩu súng máy DShK của ISU-152 cũng rất hữu dụng trong việc bắn hạ lính chống tăng Đức núp trên các tầng cao của những tòa nhà cao tầng hay núp sau các vật cản. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa bộ binh và các pháo thủ sẽ giúp Hồng quân hoàn thành nhiệm vụ với tổn thất rất nhỏ; còn nếu ngược lại, các khẩu ISU-152 với lớp giáp yếu hơn ở nóc và sau lưng sẽ trở thành mồi ngon cho súng chống tăng Đức.

    Pháo tự hành chống tăng hạng nặng

    ISU-152 có thể đóng vai trò một pháo tự hành chống tăng hạng nặng hiệu quả trong tác chiến. Mặc dù nó không được thiết kế cho mục đích chống tăng, khả năng hạ gục các xe bọc thép mạnh nhất của Đức (các xe tăng Con báo, Con hổ, Con hổ II, các pháo tự hành Elefant, Jagdtiger) chỉ trong vòng 1 phát bắn đã khiến nó kế thừa biệt hiệu Zveroboy ("kẻ giết quái vật") từ tiền nhiệm SU-152 của nó. Khối lượng lớn của viên đạn 152,4 ly khiến tốc độ nạp đạn trở nên rất chậm: chỉ từ 1-3 viên/phút; đồng thời độ chính xác của nó tại tầm xa không thể nào bì được với các loại pháo chống tăng sơ tốc cao. Tuy nhiên chỉ riêng sức nổ kinh khủng của loại đạn này đã có thể thổi bay tháp pháo của một chiếc xe tăng Con hổ. Đôi khi "nạn nhân" xấu số không bị phá hủy hoàn toàn và có thể được sửa chữa lại, tuy nhiên sức phá kinh hồn của viên đạn đủ để gây ra hư hại đáng kể cho kết cấu bên trong của xe và gây ra thương vong cho tổ lái do các mảnh văng của vỏ giáp và sự rò rỉ nhiên liệu trong các khoang chứa. Không có bất cứ binh sĩ nào trong xe bọc thép có hy vọng sống sót nếu chiếc xe đó ăn phải một phát đạn của ISU-152. Sau Trận Vòng cung Kursk, để phục vụ cho việc chống tăng, một loại đạn xuyên giáp với khối lượng còn lớn hơn đã được phát triển với mục đích tăng khả năng chống tăng cho ISU-152. Tuy nhiên, loại đạn này có chi phí cao, số lượng ít và hiệu quả chống tăng hơn không đáng kể so với loại đạn nổ; bản thân kết cấu của khẩu pháo của ISU-152 đã đánh đổi sơ tốc và độ chính xác để lấy tầm bắn xa và khối lượng, nó cũng không được thiết kế để cạnh tranh với các pháo chống tăng thực thụ. Đôi khi loại đạn xuyên giáp lõi cứng cũng được sử dụng cho các nhiệm vụ chống tăng. Một loại đạn lượng nổ lõm sơ khai với đầu đạn nặng 27,44 kg cũng được phát triển. Khả năng xuyên giáp của nó đạt 250 ly giáp thép cán đồng nhất đặt theo phương vuông góc với mặt đất. Loại đạn này chưa được sử dụng trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.

    Giáp trước của ISU-152 dày đến 90 ly và được làm vát nghiêng, so với độ dày của tiền bối SU-152 là 65 ly. Vì thế ISU-152 được bảo vệ tốt trước các khẩu pháo KwK 40 75 ly của xe tăng Panzer IV và pháo tự hành StuG, trừ phi ở khoảng cách rất gần. Các loại xe tăng Con hổ với khẩu KwK 36 88 ly mạnh hơn cũng phải giảm khoảng cách bắn xuống còn tầm trung để có thể bắn hạ ISU-152; như vậy ưu thế về tầm bắn của nó đã bị hóa giải và việc giảm khoảng cách bắn cũng khiến cạnh sườn của chúng dễ bị tổn thương trước các khẩu ZiS-S-53 85 ly của T-34-85.
    Thật ra ISU-152 không phải là một pháo tự hành chống tăng đích thực. Nó có tốc độ bắn rất chậm nếu so với các pháo tự hành chống tăng như Jagdpanther của Đức và SU-100 của Liên Xô (có thể bắn đến 5-8 phát trong một phút). Tuy nhiên, trước khi SU-100 ra đời vào cuối năm 1944 thì ISU-152 là loại thiết giáp duy nhất của Liên Xố có khả năng hạ gục các xe tăng hạng nặng của Đức with any kind of reliability; đồng thời sự đa vai trò của nó đồng nghĩa với việc ISU-152 được sản xuất với số lượng lớn hơn SU-100 rất nhiều. Được ngụy trang tốt, nhanh chóng thay đổi vị trí bắn và tổ chức mai phục với nhiều chiếc cùng bắn vào một mục tiêu sẽ giảm thiểu nhược điểm tốc độ bắn chậm của ISU-152. Với các chiến thuật nêu trên, ISU-152 nhanh chóng trở thành nỗi sợ hãi của các đơn vị xe tăng hạng nặng của Đức, làm thay đổi quan điểm của phát xít Đức về các lực lượng tăng thiết giáp Liên Xô và buộc người Đức phải sử dụng các lực lượng xe tăng một cách dè dặt, thận trọng hơn


    Các thông số kỹ thuật chính:

    Nơi sản xuất: Liên Xô
    Kíp xe: 5 người
    Khối lượng: 46 tấn
    Kích thước: chiều dài: 9m (tổng thể), 6,8m theo thân xe; chiều rộng: 3,07m; chiều cao: 2,48m
    Tầm hoạt động: 185km
    Bọc thép: 90mm
    Trang bị: một lựu pháo 152mm ML-20S, súng phòng không 12,7mm
    Động cơ: động cơ diezen V-2IS 520 sức ngựa
    Tính năng hoạt động: tốc độ tối đa trên đường bộ: 40km/h
    Khả năng vượt chướng ngại vật: độ cao: 1,2m; hố sâu: 2,6m; chỗ nông: 1,3m
    Chúng ta thấy tương lai tươi sáng của tổ quốc yêu dấu
    Với lý tưởng ******** bất tử
    Chúng ta sẽ mãi mãi trung thành
    Dưới lá cờ đỏ thấm của Tổ quốc vinh quang




  12. #4347
    swathai's Avatar
    swathai vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ
    Tham gia
    May 2008
    Bài
    15
    Cảm ơn
    46
    Điểm
    9/8 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Jagdpanther

    Jagdpanzer V Jagdpanther
    Loại Pháo tự hành chống tăng
    Quốc gia chế tạo Đức Quốc Xã
    Lược sử chế tạo
    Giai đoạn sản xuất 1944-1945
    Số lượng chế tạo 415
    Các biến thể G1, G2
    Thông số kỹ chiến thuật
    Trọng lượng 45.5 tấn (100,309 lbs)
    Chiều dài 9.87 m (32.38 ft)
    Chiều rộng 3.42 m (11.22 ft)
    Chiều cao 2.71 m (8.89 ft)
    Kíp chiến đấu 5
    Bọc giáp 80 mm (3.14 in)-trước
    100 mm (3.93 in)-khiên đỡ
    45mm-sườn
    40mm-sau
    Vũ khí chính 1x 8.8 cm Pak 43/3 hoặc 43/4 L/71
    57 viên
    Vũ khí phụ 1x 7.92 mm Maschinengewehr 34
    600 viên
    Động cơ Maybach HL230 P30 (V-12)
    700 PS (690 hp, 515 kW)
    Công suất/trọng lượng 15.4 PS/tấn
    Hệ thống treo Thanh xoắn đôi
    Tầm hoạt động 160 km (99.41 mi)
    Tốc độ 46 km/h (28.6 mph)
    Jagdpanther(tiếng Anh:”hunting panther”-tạm dịch:báo săn) là một tên của một loại pháo tự hành của Đức Quốc Xã trong thế chiến II.Jagdpanther được lắp trên khung tăng Panther.Nó tham gia cuộc chiến khá muộn(1944)và phục vụ ở cả hai mặt trận:phía Đông và phía Tây.Nhiều nhà quân sự học cho rằng Jagdpanther là loại pháo tự hành tốt nhất trong thế chiến II.
    Phát triển

    Jagdpanther tại Pháp, năm 1944
    Dự án phát triển một loại pháo tự hành hạng trung được trang bị pháo 8.8 cm Pak 43 và lắp trên khung tăng Panther được OKH phê chuẩn từ năm 1942. Việc sản xuất bắt đầu từ năm 1944, vào tháng 2/1944 Hitler đặt tên cho dự án là Jagdpanther.
    Để có thể lắp ráp được một khẩu pháo tự hành hạng trung thì Jagdpanther phải chế lại khung tăng sao cho rộng hơn, ngăn để pháo phải có cao hơn và dài hơn. Để làm được điều này các kĩ sư quân sự Đức đã phải hi sinh mất một phần tháp pháo để có chỗ rộng hơn ở bên trong tăng. Jagdpanther được bọc giáp khá kĩ càng và cẩn thận ở một số chỗ quan trọng như:tháp pháo, mặt sau và hai bên sườn. Phiên bản Panther Ausf.G (được xuất xưởng vào tháng 4/1944) cũng có những tính năng tương tự như Jagdpanther.
    Về vũ khí, Jagdpanther cũng được trang bị pháo chống tăng 8.8cm giống Tiger-II và súng máy 7.92mm MG-34-chống bộ binh. Jagdpanther có tỉ lệ chính xác tương đối cao và hoả lực của pháo chính rất mạnh đến nỗi nó có thể chọc thủng bất cứ loại tăng nào của Đồng Minh thời bấy giờ. Nó sửa chữa tất cả các lỗi của Panther như:bộ truyền lực, khiên đỡ và bộ radio. Kíp lái Jagdpanther gồm 5 người: lái xe, pháo thủ, nạp đạn, điều khiển ra-đi-ô, trưởng xe.
    Hai biến thể của Jagdpanther rất dễ nhận ra: phiên bản G-1 với pháo chính được đặt vào bên trong, ngăn để động cơ của tăng Panther A; phiên bản G-2 với pháo chính to và dài hơn, toàn bộ phần pháo được đặt ra ngoài và bên trong tăng cũng có nhiều khoảng trống hơn. Tất cả hai biến thể đều sử dụng pháo Pak 43/4 và súng máy MG-34.
    Toàn bộ số Jagdpanther đều hoạt động ở mặt trận phía Tây và phục vụ cho các sư đoàn Panzer.
    Lược sử sản xuất
    Có tổng cộng 415 chiếc Jagdpanther được sản xuất từ tháng 1/1944 đến cuối cuộc chiến bởi 3 hãng sản xuất vũ khí:MIAG sản xuất được 270 chiếc tính từ tháng 1/1944 đến cuối cuộc chiến, MNH(Maschinenfabrik Niedersachsen-Hannover) sản xuất 112 chiếc từ tháng 11/1944 và MBA(Maschinenbau und Bahnbedarf ) sản xuất 37 chiếc từ tháng 12/1944[1].Số Jagdpanther chủ yếu hoạt động ở mặt trận phía Đông, chỉ tham gia hai trận ở mặt trận phía Tây là trận Normandy và trận phản công Ardennes.
    Lược sử hoạt động

    Số Jagdpanther chính thức được trang bị cho hai sư đoàn số 559 và 654 vào tháng 6/1944. Trong trận phản công Ardennes, có khoảng 300 chiếc Jagdpanther được triển khai tấn công-đây trận đánh sử dụng Jagdpanther nhiều nhất. Số Jagdpanther đã thực sự gây ra khó khăn đối với quân Đồng Minh trong quá trình ********** nước Pháp. Những trận đụng độ thiết giáp giữa xe tăng Đồng Minh và Jagdpanther thường xuyên xảy ra và số tăng Đồng Minh thiệt hại khá lớn. Chỉ trong vòng có 3 tháng(11/1944-2/1944), quân Đồng Minh đã mất hơn 1800 xe tăng (chưa kể số tăng bị máy bay tấn công). Từ tháng 2/1945, Jagdpanther được triển khai ở cả hai mặt trận để kìm *** con đường tiến công của Đồng Minh và Liên Xô. Trận đánh cuối cùng giữa một sư đoàn Jagdpanther và một sư đoàn thiết giáp của Liên Xô diễn ra ở ngoại ô Berlin, có khoảng 100 tăng của Liên Xô bị thiệt hại.
    phản công nè

  13. #4348
    luongmy's Avatar
    luongmy vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá Đôi
    Tham gia
    Nov 2009
    Đến từ
    VIỆT NAM
    Bài
    114
    Cảm ơn
    117
    Điểm
    191/38 bài viết
    VR power
    0

    Default

    híc ta mới vắng mặt mấy ngày mà đánh nhau ác liệt vậy , woa ! Su 30 thoắt ẩn thoắt hiện lâu lâu làm bài hơi bị đẹp nha !

    KHÔNG CÓ GÌ QUÍ HƠN ĐỘC LẬP TƯ DO


  14. #4349
    tybeo's Avatar
    tybeo vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Chiến Bạc
    Tham gia
    Apr 2008
    Đến từ
    off vô thời hạn
    Bài
    3.532
    Cảm ơn
    2.365
    Điểm
    3.119/862 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Trích luongmy View Post
    híc ta mới vắng mặt mấy ngày mà đánh nhau ác liệt vậy , woa ! Su 30 thoắt ẩn thoắt hiện lâu lâu làm bài hơi bị đẹp nha !
    ******** luongmy hãy cố thủ ^^ ******** hãy cho ASU-57 ra trận giúp tôi nhé
    Chúng ta thấy tương lai tươi sáng của tổ quốc yêu dấu
    Với lý tưởng ******** bất tử
    Chúng ta sẽ mãi mãi trung thành
    Dưới lá cờ đỏ thấm của Tổ quốc vinh quang




  15. #4350
    Red-Skull-Axis's Avatar
    Red-Skull-Axis vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Mar 2009
    Đến từ
    Koblenz - Germany
    Bài
    52
    Cảm ơn
    40
    Điểm
    76/21 bài viết
    VR power
    0

    Default

    hye hey lâu nay chiến tranh vẫn tiếp diễn sao

 

 

Tag của Đề tài này

Quyền sử dụng

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể tự sửa bài viết của mình
  •