Go Back   VN-Zoom forum > Giải trí > Văn học > Truyện Dài

 

Hãy là người biết chia sẻ!

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 09-08-2007, 21:23   #1
Rìu Vàng Đôi
 
tntnhut's Avatar
 
Tham gia: Apr 2007
Đến từ: Việt Nam
Bài: 1.308
VZD: 58.412
Cảm ơn: 0
Điểm: 612/155 bài viết
Default SHERLOCK HOLMES (Chiếc nhẫn tình cờ)

CHIẾC NHẪN TÌNH CỜ

1. sherlock holmes.

Năm 1878, tôi tốt nghiệp tại trường Đại học Y Luân Đôn, sau đó đến Netley dự khóa tu nghiệp dành cho các bác sĩ quân y. Học xong, tôi được bổ nhiệm về trung đoàn bộ binh Northumberland số 5, khi ấy đang đóng tại Ấn Độ. Tôi chưa kịp tới đơn vị của mình thì cuộc chiến tranh Afghanistan lần thứ hai bùng nổ. Đặt chân lên Bombay, tôi được biết đơn vị đang nằm sâu trên lãnh thổ địch. Tôi lần đường đi theo đơn vị và tới được Kandahar an toàn. Tại đây, tôi gặp trung đoàn của mình.
Tôi bị chuyển sang trung đoàn Berkshire và tham dự trận đánh Maiwand. Trong trận này, tôi bị thương ở vai, nếu không có người lính hầu xốc tôi lên ngựa và đưa về phía sau chiến tuyến thì tôi đã rơi vào tay quân địch rồi.

Kiệt sức, tôi được đưa về bệnh viện hậu phương Peshawar. Tại đây, tôi bình phục dần, và lúc có thể ra sưởi nắng ngoài hiên thì lại bị bệnh thương hàn. Trong hàng tháng trời. người ta ra sức cứu sống tôi; đến ngày khỏi bệnh, tôi gầy yếu đến nỗi Cục quân y phải đưa tôi về Anh ngay lập tức. Một tháng sau, tôi đặt chân lên bến cảng Portsmouth, chính phủ cho tôi nghỉ chín tháng để lấy lại sức.

Vì không có bà con ở Anh nên tôi được tự do như gió trời, với mười một si-linh sáu penny một ngày. Trong tình cảnh đó, tôi bị thu hút về Luân Đôn với một sức mạnh không cưỡng lại nổi. Ở đây, tôi sống ít lâu tại một khách sạn, nhưng chẳng bao lâu tôi thấy mình nên đi tìm một nhà trọ xuềnh xoàng và đỡ tốn kém hơn.

Đúng vào hôm tôi đi đến quyết định này, khi đang ở một quán rượu thì bỗng có người vỗ vai tôi. Ngoảnh lại, tôi nhận ra Stmford, một thanh niên trước đây làm y tá dưới quyền tôi. Trước đây, tôi chưa bao giờ thật thân với Stmford nhưng bây giờ tôi vồ vập, chào đón anh ta; và gặp tôi, Stmford xem chừng cũng hoan hỉ lắm, tôi mời anh ta đi ăn trưa tại khách sạn. Chúng tôi gọi xe ngựa, và trong lúc chiếc xe chạy, Stamford hỏi tôi:

- Dạo này ra sao? Trông anh gầy quá.

Tôi phát qua vài nét về những bước thăng trầm của mình. Chuyện vừa xong thì xe cũng tới quán ăn.

- Khốn khổ! Thế anh tính sao bây giờ?

- Tôi định tìm một nơi ở tiện nghi với một cái giá phải chăng.
- Lạ thật! Anh là người thứ hai trong ngày hôm nay ngỏ với tôi cái ý ấy.
- Ai là người thứ nhất?
- Một anh chàng làm việc tại phòng thí nghiệm hoá học ở bệnh viện. Sáng nay, anh ta phàn nàn là không tìm được ai để ở chung hầu giảm được một nửa tiền thuê nhà.
- Tôi cũng vậy. Tôi nghĩ ở chung hay hơn ở một mình.
Stamford cầm ly rượu, nhìn tôi với một vẻ khó hiểu:
- Anh chưa hiểu sherlock holmes. Có thể anh sẽ không thích anh ta.
- Anh ta có gì đáng chê trách?
- Ồ! Anh ta có những ý kiến hơi kỳ quặc. Anh ta nghiên cứu say mê cuồng nhiệt một vài ngành khoa học. Còn ngoài ra, anh ta là một người lịch sự, đúng mực.
- Sinh viên y khoa?
- Không, tôi không hiểu anh ta định học cái gì; rất giỏi về giải phẫu, về hóa học, nhưng chưa hề theo học một lớp học chính quy nào. Anh ta học theo lối cóc nhảy, song trong nhiều lĩnh vực, anh ta đã thu nhập được một số vốn hiểu biết rộng lớn đến nỗi các giáo sư phải kinh ngạc.
- Anh không hỏi anh định theo ngành nghề nào sao?
- Đó là một con người không dễ khơi chuyện, tuy rằng những khi cao hứng, anh ta cũng thích chuyện trò.
- Nếu phải ở chung với ai, tôi muốn đó là một người ham học và yên tĩnh. Hiện nay tôi chưa khoẻ nên rất sợ tiếng ồn. Tôi gặp bạn anh bằng cách nào?
- Anh ta hiện đang ở phòng thí nghiệm. Ăn xong, chúng ta sẽ đi đến đấy.
Trên đường đi, Stamford cho tôi biết thêm một vài chi tiết nữa về sherlock holmes.
- Về holmes, tôi không biết gì hơn ngoài những điều tôi hiểu qua các buổi gặp gỡ tại phòng thí nghiệm. Chính anh đã đề xuất ý kiến ở chung, may nhờ rủi chịu đấy nhé!
- Nếu không hợp, chúng tôi sẽ chia tay nhau. Nhưng, hình như có một lý do nào đó khiến anh muốn phủi tay khỏi việc này. Tính tình người ấy khó chịu đến vậy ư?
- Không dễ diễn đạt được cái không thể diễn đạt nổi. sherlock holmes có tính tình gần như lạnh lùng, sắt đá. Anh ta rất có thể cho một người bạn uống thử một nhúm ancaloit thực vật loại mới nhất, không phải vì độc ác mà chỉ vì muốn biết hiệu lực của chất độc ấy như thế nào. Công bằng mà nói, tôi tin rằng bản thân anh ta cũng có thể sẽ dùng thử một cách sốt sắng không kém.
- Thế thì rất tốt chứ sao?
- Đúng, nhưng việc lấy gậy đánh vào xác chết thì phải nói là quái gở.
- Anh ta đánh xác chết?
- Phải, để xem người ta có thể gây ra những thương tích như thế nào trên cơ thể một người đã chết. Chính mắt tôi đã nhìn thấy anh ta làm như thế.
- Vậy mà hồi nãy anh nói holmes không học ngành y?
- Không mà! Mà thôi, ta đến nơi rồi. Anh tự đánh giá nhân vật ấy.
Chúng tôi đi theo một lối hẹp, qua chiếc cửa phụ nhỏ, bước vào mé nhà của khu bệnh viện lớn. Gần cuối hành lang có một lối rẽ nhỏ dẫn đến phòng thí nghiệm hóa học.
Đây là một gian phòng cao, các giá trên tường để đầy các chai lọ. Đây đó có mấy các bàn rộng và thấp, mặt bàn bề bộn những bình cổ cong, ống nghiệm, đèn hơi với ngọn lửa xanh lè. Trong phòng chỉ có mỗi một người đang chúi mũi xuống một chiếc bàn. Nghe tiếng chân chúng tôi, anh ta đảo mắt nhìn quanh rồi reo lên một tiếng và vội vã đứng lên.
- Tôi tìm ra rồi! Tôi tìm ra rồi! – Anh ta reo lên với Stamford và hấp tấp đi về phía chúng tôi, tay cầm một ống nghiệm – Tôi đã tìm ra một thuốc thử có đặc tính làm kết tủa huyết cầu tố mà không làm kết tủa bất kỳ chất nào khác.
Giá như anh ta có thấy một mỏ vàng thì sự vui mừng cũng chỉ đến thế là cùng. Stamford giới thiệu:
- Đây là bác sĩ Watson, đây là ông sherlock holmes.
Holmes thân mật bắt tay tôi với một sức mạnh mà tôi không nghĩ có thể có ở anh ta.
- Chào ông, ông ở Afghanistan về, phải không?
- Làm sao ông biết? – Tôi kinh ngạc hỏi lại.
- Có gì đâu. Cái điều quan trong bây giờ là huyết cầu tố. Chắc ông hiểu được phát minh của tôi có tầm quan trọng như thế nào chứ?
- Một phát minh lý thú về mặt hóa học, nhưng về mặt thực tế…
- Ông nói lạ! Đây là phát minh có giá trị thực tiễn nhất từ bao nhiêu năm nay trong ngành pháp y. Ông không thấy là nó giúp ta xác địng một cách không thể nhầm lẫn những vết máu à? Mời ông lại gần đây – Trong lúc hào hứng, anh ta nắm lấy tay áo tôi, kéo lại chiếc bàn anh ta đang làm việc – Ta lấy một ít máu tươi nhé – Vừa nói anh ta vừa lấy kim đâm vào đầu ngón tay, nặn ra một giọt máu và lấy ống hút hút – Bây giờ, tôi hòa chút xíu máu này vào một lít nước. Ông thấy hỗn hợp ấy trông như nước, tỷ lệ của máu trong đó không thể quá một phần triệu. Dẫu vậy, tôi hoàn toàn tin chắc ta sẽ có được phản ứng đặc trưng.
Nói xong, holmes thả vào trong bình một vài tinh thể trắng rồi rót thêm vài giọt chất lỏng trong suốt. Một phút sau, hỗn hợp trong bình chuyển thành màu gụ và một thứ bụi màu nâu nhạt kết tủa dưới đáy bình.
- Ha! Ha! Ông nói sao? – holmes vỗ tay reo lên.
- Theo tôi, đây là một cách thử rất tinh tế.
- Tuyệt vời! Cách thử cũ với chất gai-a-côn vừa thô kệch vừa không chắc. Cách tìm hiểu thể máu trên kính hiển vi cũng vậy, với lại chỉ cần vệt máu để lâu một vài giờ là phương thức đó không áp dụng được. Còn phương pháp này thì lúc nào cũng hiệu nghiệm, dù với máu cũ hay máu tươi.
- Quả vậy – Tôi lẩm bẩm.
- Những vụ án hình sự nhiều khi chỉ còn mắc ở khâu này mà thôi. Một kẻ bị nghi đã nhúng tay vào một vụ án mạng xảy ra trước đó có khi hàng tháng. Xem xét quần áo hắn, người ta phát hiện ra những vết màu nâu nhờ nhờ. Đây có phải là những vết máu không, hay là vết bùn, vết gỉ sắt, vết nhựa trái cây… Còn bây giờ đã có phản ứng hóa học này, việc xác định kia không còn khó khăn gì nữa.
Đôi mắt holmes ngời lên trong khi nói, và tay phải đặt lên ngực trái, anh ta cúi gập người như để chào đáp lại những người ngưỡng mộ tưởng tượng của mình.
- Ông thật đáng biểu dương – Tôi phụ họa.
- Tôi có thể kể với ông đến hai chục vụ án đã qua mà phản ứng của tôi có thể đóng vai trò quyết định.
- Ông khác nào một quyển niên giám hình sự sống. Ông có thể ra một tờ báo được đấy, lấy tên là “Những vụ án hình sự trong quá khứ” – Stamford cười nói.
- Và đó sẽ là một tờ báo rất bổ ích – holmes tiếp lời trong khi dán một miếng băng dính lên vết kim châm vừa rồi ở đầu ngón tay. Anh ta quay sang tôi giải thích – Tôi phải cẩn thạn như vậy vì tôi thao tác khá nhiều loại chất độc.
Stamford ngồi xuống một chiếc ghế đẩu ba chân, đẩy một chiếc khác về phía tôi, bàn vào việc:
- Ông bạn tôi đây đang tìm chỗ ở. Thấy ông phàn nàn là không kiếm được ai ở chung nên tôi thấy không có gì tốt hơn để hai người tiếp xúc với nhau.
Holmes có vẻ bằng lòng nói:
- Tôi tìm được mấy căn phòng ở phố Baker, rất thích hợp cho chúng ta. Tôi mong rằng ông không sợ mùi thuốc lá nặng.
- Tôi cũng hút một thứ thuốc rất nặng.
- Thế thì được rồi. Tôi quan tâm nhiều đến hóa học và đôi khi phải làm những thí nghiệm tại nhà. Điều đó có làm phiền ông không?
- Hoàn toàn không.
- Xem nào! Tôi còn tật xấu nào nữa không? Đôi khi tôi lầm lì, mấy ngày liền không hé răng một lời nào. Những khi như vậy, cứ để mặc tôi, chẳng bao lâu tôi sẽ lại vui vẻ. Còn ông, ông có điều gì cần nói không?
- Tôi cũng có một vài cố tật nhỏ. Tôi không thích ồn ào. Tôi dậy vào những giờ rất khác thường, ngoài ra tôi rất lười nhác. Khi tôi khỏe mạnh, tôi lại có một loạt những tính xấu nho nhỏ khác. Hiện thời, đó là những nét chính.
- Trong chữ ồn ào có gộp cả tiếng vĩ cầm không?
- Tiếng đàn của người chơi giỏi chỉ làm cho người nghe khoan khoái, chơi tồi thì…
- Ồ, thế thì được rồi! – holmes cười vui vẻ - Như vậy là đã ổn thoả, nghĩa là nếu như ông ưng chỗ ở.
- Khi nào ta đi xem?
- Mười hai giờ trưa mai mời ông đến đây, chúng ta cùng đi xem.
- Xin đúng hẹn, mười hai giờ trưa mai – Tôi nói và bắt tay anh.
Chúng tôi để anh làm việc tiếp và trở về khách sạn. Tôi bỗng dừng lại, quay sang hỏi Stamford:
- Này, làm thế nào mà anh ta biết là tôi ở Afghanistan về nhỉ?
- Anh ta khác người là ở chỗ đó.
Tôi xoa hai tay vào nhau:
- Ồ, một điều bí mật à? Thú vị thật! Tôi rất cảm ơn anh cho tôi có dịp tiếp xúc với anh ta. Như anh biết đấy, đối tượng trong công cuộc nghiên cứu của loài người chính là con người.
- Thế thì anh phải nghiên cứu anh ta đi thôi. Thôi xin tạm biệt nhé.
- Xin tạm biệt.
2. Suy đoán, một môn khoa học.
Như đã hẹn, ngày hôm sau chúng tôi cùng đến thăm căn hộ ở số nhà 221 phố Baker. Căn hộ gồm hai phòng ngủ tiện nghi và một phòng làm việc rộng lớn, thoáng mát, đồ đạc bày biện vui mắt, ánh sáng bên ngoài rọi vào qua hai khung cửa sổ lớn. Căn hộ vừa ý chúng tôi lắm và giá cả cũng vừa túi tiền. Chúng tôi nhận ngay. Tối hôm ấy, tôi mang đồ đạc đến và sáng hôm sau, holmes cũng chuyển đến với nhiều hòm xiểng và vali. Sau hai ngày đầu bận sắp xếp nơi ăn chốn ở cho thuận tiện, chúng tôi nhanh chóng quen dần với chỗ ở mới.
Holmes sống yên tĩnh với những nếp sinh hoạt đều đặn. Không mấy khi anh còn thức sau mười giờ tối và sáng nào khi tôi dậy, anh cũng đã ăn sáng và đi đâu rồi. Đôi khi anh ở lì trong phòng thí nghiệm, khi khác thì ở trong các phòng phẫu tích, và thỉnh thoảng có những ngày anh đến những khu phố nhớp nhúa nhất trong thành phố. Nhưng thỉnh thoảng, anh nằm dài trên chiếc đi-văng trong phòng làm việc mấy ngày liền, suốt từ sáng đến tối không hé răng nói một lời nào và hầu như không có một cử động nào.
Sự quan tâm và tò mò ban đầu của tôi muốn biết mục đích các công việc của anh mỗi ngày mỗi thôi thúc tôi hơn. Vóc người anh nhỉnh hơn một mét tám mươi, nhưng mảnh khảnh cho nên trông có vẻ cao hơn thế nhiều. Đôi mắt sắc sảo lanh lợi, cùng với sống mũi thanh mảnh, hơi khoằm khiến cho nét mặt mang một vẻ nhanh nhẹn và quyết đoán. Cái cằm vuông chìa ra trước tỏ ra đây là một con người kiên quyết.
Anh không theo học một lớp nào khả dĩ đem lại cho anh một bằng cấp trong bất kỳ một lĩnh vực khoa học nào đó. Tuy vậy, sự say mê nghiên cứu của anh trong một số lĩnh vực thật là đặc biệt; và trong giới hạn nhất định, các hiểu biết của anh rộng lớn đến nỗi những ý kiến của anh làm tôi rất đỗi kinh ngạc. Những người tự học theo lối cóc nhảy không mấy khi có những tri thức đặc biệt chính xác.
Mặt dốt nát của anh cũng đặc sắc không kém gì mặt thông thái của anh. Về nền văn hoá đương thời, triết học và chính trị, xem chừng sherlock holmes biết rất ít. Sự kinh ngạc của tôi lên đến tột đỉnh khi tôi phát hiện ra holmes không biết nhiều về học thuyết Copernic và cấu tạo của hệ mặt trời.
- Anh ngạc nhiên à? Khi đã biết lý thuyết ấy rồi, tôi sẽ ra sức quên nó đi.
- Quên nó đi?
- Bộ óc con người ban đầu như một gian phòng trống rỗng, ta sẽ phải xếp vào đấy những đồ đạc ta thích. Kẻ ngu ngốc chồng chất vào trong đó đủ mọi thứ linh tinh đến nỗi các tri thức có thể giúp ích cho hắn bị đè bẹp dưới một đống tri thức khác, đến nỗi khi cần, hắn khó mà lôi ra sử dụng được. Trái lại, người thợ lành nghề chọn lọc hết sức cẩn thận những thứ xếp vào trong gian buồng ấy. Anh ta chỉ muốn chứa trong đó những dụng cụ có ích cho mình trong công việc, cái nào cái nấy sắp đặt một cách thật ngăn nắp. Thật là sai lầm nếu cho rằng cái gian buồng nhỏ bé ấy có những bức tường co giãn và nó có thể phình ra vô cùng tận. Anh hãy tin rằng rồi sẽ đến lúc mà mỗi khi ta nhận được một hiểu biết mới ta sẽ quên mất cái kiến thức gì đó đã có trong óc. Vì vậy, chớ có thu thập những khái niệm vô ích, chúng sẽ đẩy đi mất những điều có ích.
- Thế nhưng hệ mặt trời… - Tôi phản đối.
- Nó can gì đến tôi? – holmes cao giọng – Nếu chúng ta xoay quanh mặt trăng thì công việc của tôi có gì khác đâu?
Tôi đã toan hỏi anh công việc đó là cái gì vậy, nhưng dáng điệu anh bảo cho tôi biết câu hỏi ấy không được tiếp nhận. Tuy vậy, tôi suy nghĩ về buổi nói chuyện ngắn ngủi này và cố rút ra mấy điều suy đoán. Holmes nói với tôi rằng anh không muốn thu thập những hiểu biết không liên quan gì đến công việc của mình. Vậy thì, tất cả những tri thức mà anh có đều có thể giúp ích cho anh. Tôi thầm liệt kê những lĩnh vực mà anh đã để lộ cho thấy anh thành thạo. Thậm chí, tôi lấy bút chì ghi những điều đó ra giấy. liệt kê đã xong, tôi không khỏi mỉm cười, bản nhận xét đó như sau:
Sherlock holmes: năng lực:
Hiểu biết về văn học: số không.
Hiểu biết về triết học: số không.
Hiểu biết về thiên văn học: số không.
Hiểu biết về chính trị: yếu.
Hiểu biết về thực vật: tồi.
Am hiểu chất thuốc phiện và các loại chất độc nói chung. Hoàn toàn không biết gì về nghề làm vườn.
Hiểu biết về địa chất: có những hiểu biết thực tế, nhưng hạn chế. Thoạt nhìn nói được ngay các loại đất khác nhau.
Hiểu biết về hoá học: rất sâu sắc.
Hiểu biết về giải phẫu: chính xác nhưng không có hệ thống.
Hiểu biết về sách báo hình sự: hết sức rộng lớn.
Chơi đàn vĩ cầm: tốt.
Bậc thầy về tài nghệ đánh gậy, quyền anh và đấu kiếm.
Vận dụng thành thạo luật pháp nước Anh…
Ghi đến đây, thấy rối như tơ vò, tôi quẳng mảnh giấy vào lửa, nghĩ bụng: “Chẳng hiểu con người này nhằm vào mục đích gì mà ra sức phát triển một số năng lực trên. Mình cũng không sao tìm thấy một nghề nào đòi hỏi tất cả những năng lực ấy. Thôi thì đành bỏ cuộc ngay thôi, cho khỏi mệt người”.
Trong tuần đầu, tôi đã tưởng holmes không có mấy bạn bè. Nhưng chẳng bao lâu, tôi nhận ra anh quen biết rất rộng. Đầu tiên, một anh chàng người nhỏ bé, da tái, mặt choắt, mắt đen, đến ba bốn lần liền trong một tuần. Một hôm, có cô gái ăn mặc theo thời trang đến vào buổi sáng và ở chơi chừng một giờ. Ngay chiều hôm đó có thêm ông khách quần áo xuềnh xoàng, tóc hoa râm, dáng dấp như một người bán hàng rong.
Và tiếp theo đó là một phụ nữ cao tuổi, xống áo cẩu thả. Một dịp khác có một ông chững chạc, tóc bạc trắng hết cả. Rồi một phu khuân vác ở nhà ga trong bộ đồng phục bằng vải nhung. Mỗi khi có khách đến, holmes yêu cầu tôi để cho anh được sử dụng phòng khách. Lần nào anh cũng không quên xin lỗi tôi.
- Tôi phải dùng gian phòng này để làm việc. Họ là khách hàng của tôi.
Đó là một cơ hội để hỏi thẳng công việc của anh là gì, nhưng tính tôi vẫn dè dặt, nên lại thôi.
Hôm ấy, tôi dậy sớm hơn thường lệ và nhận thấy anh chưa ăn xong bữa sáng. Người phục vụ đã quen với thói dậy muộn của tôi nên bà ta chưa chuẩn bị cho tôi. Tôi rung chuông với một thái độ nóng nảy và bảo bà ta với giọng khá cộc cằn. Sau đó, tôi cầm lấy một tờ báo để giết thời giờ. Trên tờ báo có một bài được đánh dấu bằng bút chì.
Dưới dòng tít khá huênh hoang “Cuốn sách cuộc đời”, tác giả bài báo khoe là có thể đi sâu vào những ý nghĩ thầm kín nhất của con người, căn cứ vào một vẻ mặt thoáng qua, một cử động của cơ bắp, một ánh mắt vụng trộm.
Bài báo viết:
Chỉ từ một giọt nước, người giỏi suy luận có thể suy ra khả năng của một đại dương hoặc một thác nước, tuy chưa bao giờ tận mắt nhìn thấy chúng. Như vậy, toàn bộ cuộc sống là một chuỗi mắt xích rộng lớn mà ta có thể biết bản chất của nó, nếu ta biết được một mắt xích. Như tất cả mọi khoa học khác, “suy đoán và phân tích” là một khoa học mà ta chỉ có thể làm chủ sau một quá trình nghiên cứu lâu dài, bền bỉ. Người mới đi vào lĩnh vực này nên bắt đầu bằng những vấn đề sơ đẳng: gặp bất kì ai, chỉ bằng vào sự quan sát, ta hãy cố tìm hiểu tiểu sử, nghề nghiệp của người ấy. Tuy có vẻ ấu trĩ, nhưng thực ra sự tập luyện này rèn giũa các khả năng quan sát của ta và nó dạy cho ta biết cần phải nhìn vào đâu và phải tìm kiếm cái gì. Móng tay, những vết chai ở ngón trỏ và ngón cái, ống tay áo, đầu gối quần, dáng đi, cách đứng đều là những thứ nói lên nghề nghiệp của một con người…
Tôi quăng tờ báo xuống bàn, thốt lên:
- Nhảm nhí! Tôi chưa thấy ai viết nhăng nhít đến vậy.
- Anh nói về cái thế? – holmes hỏi tôi.
- À, bài báo mà anh đã đánh dấu bên cạnh. Tôi không phủ nhận là bài báo có một lối viết khá, nhưng nó làm tôi khó chịu. Rõ ràng đây là một lý thuyết do một kẻ vô công rồi nghề nặn ra. Mong sao gặp hắn trên một toa xe điện ngầm hạng hai để bắt hắn nói ra nghề nghiệp của tất cả các hành khách trên xe. Tôi dám đánh cuộc với hắn một nghìn ăn một.
- Anh sẽ thua thôi. Bởi vì tôi là tác giả bài báo đó.
- Anh?
- Đúng, tôi. Quan sát và suy đoán là hai thứ mà tôi vốn ham thích. Những lý thuyết tôi nêu lên trong bài báo là hết sức thực tế, thực tế đến nỗi tôi lấy nó làm kế sinh nhai.
- Đó là nghề gì? – Tôi buộc miệng hỏi.
- Tôi kể anh nghe nhé. Tôi có một nghề riêng mà có lẽ trên thế giới có mỗi mình tôi làm. Nghề của tôi là thám tử cố vấn. Ở Luân Đôn này có vô số thám tử công, thám tử tư. Các vị ấy gặp phải điều gì bí, họ đến gặp tôi và tôi tìm cách gợi cho họ đi đúng hướng. Các vụ phạm pháp thường có nhiều nét rất giống nhau, nếu ta thuộc lòng các chi tiết của một số vụ thì rất dễ lần ra đầu mối của vụ thứ một nghìn lẻ một. Lestrade là một thám tử khá. Mới đây ông ta đi nhầm hướng trong việc khám phá một vụ làm bạc giả, vì vậy ông ta phải đến đây.
- Còn những người khách khác thì sao?
- Họ hầu hết là người của các hãng trinh thám tư. Họ mắc mớ ở điểm này hoặc điểm khác. Tôi nghe họ kể về công việc của họ, còn họ thì nghe các lời khuyên bảo của tôi và trả tiền công cho tôi.
- Phải chăng anh ngồi yên trong phòng mà vẫn có thể giải quyết được những mắc mứu mà người khác không tài nào giải quyết nổi?
- Đúng thế. Tôi có rất nhiều kiến thức đặc biệt để áp dụng vào lĩnh vực này. Những quy tắc suy đoán trình bày trong bài báo mà anh đã khinh thường, đối với tôi lại có một giá trị không sao tưởng hết trong thực hành. Ngay lần đầu gặp anh, tôi đã biết là anh vừa ở Afghanistan về.
- Chắc có ai bảo anh?
- Không đâu. Lúc ấy cả một loạt những suy nghĩ, xét đoán đã lướt nhanh qua óc tôi khiến tôi đi thẳng đến kết luận ấy. Tuy vậy, có tồn tại những chặng đường. Cách lập luận phối hợp của tôi như sau: vị này thuộc giới bác sĩ, nhưng lại có dáng dấp một quân nhân, vậy thì chắc chắn là một bác sĩ quân y. Anh ta vừa mới ở vùng nhiệt đới về vì nước da rất sẫm nhưng không phải là nước da tự nhiên bởi da ở hai cổ tay rất trắng. Anh ta đã phải trải qua nhiều ngày kham khổ, đau ốm, điều đó có thể thấy rõ trên nét mặt. Anh ta đã bị thương ở cánh tay vì cánh tay này cử động hơi gượng gạo. Một bác sĩ quân y người Anh, sống ở vùng nhiệt đới nào mà lại bị thương ở cánh tay và phải sống kham khổ thiếu thốn? Tất nhiên là ở Afghanistan. Tất cả chuỗi suy nghĩ này diễn ra không đầy một giây đồng hồ.
Tôi mỉm cười:
- Giải thích ra thì thấy rất đơn giản. Anh làm tôi nhớ đến nhân vật Dupin của Edgar Allen Poe. Tôi tưởng loại này chỉ tồn tại trong các tiểu thuyết chứ làm gì có ngoài cuộc đời.
Holmes đứng dậy, châm tẩu thuốc:
- Có lẽ anh tưởng so sánh tôi với Dupin là khen tôi chăng? Theo tôi, Dupin là một kẻ tầm thường. Ông ta khoe là có thể dò đoán được ý nghĩ của bạn bè sau một khắc đồng hồ im lặng, nói như thế là quá khoa trương lại là kém cỏi. Ông ta có lẽ có đôi chút năng khiếu phân tích. Thế thôi.
- Anh đã đọc sách của Gaboriau chưa? Lecoq có phải là thám tử không?
Holmes có một cử chỉ mỉa mai và một giọng bực bội:
- Lecoq à? Ông ta giỏi về tay chân hơn đầu óc. Ông ta chỉ có mỗi một điều đáng khen là nghị lực. Cuốn sách ấy thực sự làm tôi phát ngán. Vấn đề đặt ra cho ông ta là xác định thủ phạm trong một đám tù nhân. Việc ấy tôi sẽ giải quyết trong hai mươi bốn giờ, còn ông ta đã phải mất một tháng.
Tôi hơi khó chịu khi thấy hai nhân vật mà tôi khâm phục bị coi thường. Tôi lại bên cửa sổ nhìn xuống đường phố nhộn nhịp bên dưới, nghĩ bụng: “Ông bạn này có thể rất giỏi, nhưng đồng thời cũng rất tự mãn”.
Holmes nói tiếp với giọng luyến tiếc:
- Đầu óc tôi bây giờ còn biết dùng làm gì nữa! Xưa nay chưa bao giờ có một vụ án nào dữ dội để tôi khám phá cả! Cùng lắm là vài ba vụ gian lận vụng về với những động cơ lộ liễu đến nỗi ngay một nhân viên Sở cảnh sát cũng nhận ra ngay.
Sự huênh hoang của holmes tiếp tục làm tôi khó chịu, tôi thấy tốt hơn hết là thay đổi câu chuyện. Trên hè đường bên kia có một gã cao lơn, ăn mặc xuềnh xoàng, tay cầm một phong bì lớn đang chăm chú xem số nhà cần tìm.
Tôi chỉ tay về phía người ấy, lên tiếng hỏi:
- Không biết người kia tìm nhà nào?
- Anh muốn nói viên đội lính thuỷ đánh bộ kia phải không? – holmes hỏi tôi.
“Lại huênh hoang khoác lác rồi!” – Tôi nghĩ bụng. Ý nghĩ ấy vừa mới lướt qua óc tôi thì nhân vật đó đã nhận ra số nhà chúng tôi, rảo bước qua đường. Chúng tôi nghe tiếng gõ cửa ầm ầm, rồi tiếng bước chân nặng nề lên thang gác.
Người ấy bước vào phòng chúng tôi, đưa phong bì cho anh.
- Có thư cho ông sherlock holmes.
Đây là một dịp để hạ bớt thói hợm hĩnh của holmes. Lúc vừa rồi, khi đưa ra những lời phỏng đoán liều kia, chắc anh ta không nghĩ là tôi sẽ có cơ hội giáp mặt người này. Tôi hỏi, giọng nhẹ nhàng:
- Này anh, anh có thể cho biết anh làm nghề gì không?
- Thừa phái, thưa ông – Anh ta trả lời cộc cằn – Bộ đồ đồng phục của tôi đang được đưa đi sửa.
- Trước đây anh làm nghề gì? – Tôi đưa mắt nhìn sang holmes với vẻ chế giễu.
- Tôi ở binh chủng lính thuỷ đánh bộ, đóng lon đội. Ông có điều gì cần hỏi nữa không thưa ông? Xin chào.
Anh ta dập hai gót giày vào với nhau, giơ tay chào chúng tôi rồi đi.
3. Bí ẩn ở Lauriston Garden.
Thú thật tôi hết sức kinh ngạc trước bằng chứng về giá trị thực hành của những lý thuyết mà holmes đã nêu. Sự kính nể của tôi đối với tài phân tích của anh tăng vụt lên. Tuy vậy, trong óc tôi vẫn còn vương vấn một chút hoài nghi là tất cả câu chuyện này đã được xếp đặt từ trước để loè tôi. Nhưng loè để làm gì? Quay lại nhìn holmes, tôi thấy anh đã đọc xong thư. Nét mặt đăm chiêu và đôi mắt xa vắng.
- Làm thế quái nào mà anh đoán được?
- Đoán cái gì? – holmes hỏi giật giọng.
- Đoán là một viên đội lính thuỷ đánh bộ.
- Xin lỗi anh về những lời cáu kỉnh đó. Hoá ra, anh vẫn không thấy người đưa thư vốn là một viên đội lính thuỷ đánh bộ?
- Quả là không.
- Ngay ở bên này đường, tôi cũng đã nhìn thấy một hình mỏ neo to xăm trên mu bàn tay người ấy và bộ râu theo đúng quy định của lính thuỷ đánh bộ. Anh chàng có vẻ tự tin và thậm chí có dáng điệu chỉ huy. Một anh chàng nghiêm nghị, đạo mạo, hơi đứng tuổi, những chi tiết đó khiến cho tôi tin rằng anh đã đóng đến lon đội.
- Thật là tuyệt diệu! – Tôi reo lên.
- Có gì đâu! – Tuy nói vậy, song cứ theo vẻ mặt anh, tôi tin rằng nỗi kinh ngạc và sự khâm phục của tôi rõ ràng làm anh vui thích.
- Vừa nãy, tôi có nói là thời nay không còn những trọng án, nhưng có lẽ tôi lầm. Anh hãy xem đây.
Holmes đưa cho tôi bức thư vừa mới nhận.
- Gì thế này? Thật là khủng khiếp! – Tôi thốt lên.
- Tôi thấy vụ này hơi khác thường đấy. Anh vui lòng đọc to lên, chúng ta cùng nghe nào.
Ông sherlock holmes thân mến!
Đêm qua có một vụ án ghê gớm tại nhà số 3 đường Lauriston đoạn sát gần đường Brixton. Một nhân viên cảnh sát thấy có ánh đèn ở ngôi nhà vào khoảng hai giờ sáng. Đây là một ngôi nhà bỏ hoang nên anh ta đoán là có chuyện gì không bình thường. Anh ta thấy cửa ra vào để ngỏ ở gian phòng trông ra mặt đường, anh ta thấy xác một người đàn ông ăn mặc lịch sự, trong túi có xấp danh thiếp đề tên “Enoch J.Drebber bang Ohio, USA”. Không có cách nào xác định rõ nguyên nhân của cái chết. Trong gian phòng có nhiều vết máu, nhưng trên thi thể thì không có một thương tích nào. Chúng tôi không biết người này đã vào ngôi nhà ấy bằng cách nào và nói chung toàn bộ vụ án hãy còn là điều bí ẩn. Nếu ông có thể đến được hiện trường trước mười hai giờ trưa, ông sẽ gặp tôi ở đó. Toàn bộ hiện trường sẽ được giữ y nguyên cho đến khi ông đến. Sẽ rất hân hạnh cho tôi nếu được biết ý kiến của ông. Xin gửi ông lời chào thân thiết.
Tobias Greson.
- Greson là tay sừng sỏ nhất ở Sở cảnh sát – holmes nhận xét – Hắn và Lestrade được coi là những phần tử ưu tú của một đám không ra gì. Cả hai đều năng nổ, hăng hái, nhưng rất khuôn sáo. Và ghen tị nhau như một cặp gái lầu xanh.
Tôi ngạc nhiên thấy holmes giữ vẻ bình thản, lại có vẻ gần như giễu cợt. Tôi hối hả:
- Ta không được để lỡ phút nào, phải không anh? Tôi đi gọi xe nhé.
- Chưa chắc tôi đã đi.
- Nhưng đây chính là cơ hội mà anh đã mong mỏi từ lâu cơ mà?
- Giả thử tôi gỡ được vụ này thì bao nhiêu công lao đều vào tay greson, lestrade hết cả. không phải là người của Nhà nước thì phải chịu thiệt thòi như vậy đấy.
- Nhưng greson yêu cầu anh giúp đỡ cơ mà.
- Phải, hắn biết tôi giỏi hơn hắn và thừa nhận điều đó với tôi. Nhưng trước mặt người thứ ba, hắn thà tự cắt lưỡi đi còn hơn phải công nhận mình là thua kém. Dẫu vậy, chúng ta cũng nên đến đó xem sao. Nào, ta đi đi!
Holmes xỏ tay vào chiếc áo khoác ngoài, nhanh nhẹn chuẩn bị.
- Anh cầm lấy mũ đi.
- Anh muốn tôi cùng đi à?
- Phải.
Một lúc lúc sau, hai chúng tôi đã ngồi trong một chiếc xe ngựa chạy nước đại về phía đường Brixton.
Buổi sáng hôm ấy trời đầy mây và sương mù dày đặc. Một tấm màn tối sầm bao phủ lên các mái nhà và dường như phản chiếu các dãy phố xám xịt một màu bùn. Holmes rất vui vẻ, chuyện trò luôn miệng về những chiếc đàn vĩ cầm. Còn tôi cứ nín thinh vì thời tiết ảm đạm và vì sự việc bi thảm vừa xảy ra. Sau cùng tôi phải cắt ngang bài thuyết trình về âm nhạc của anh:
- Xem chừng anh không để tâm lắm đến cuộc điều tra sắp tới.
- Đã có dữ kiện gì đâu. Một sai lầm cơ bản là cứ đặt trước các giả thiết trong khi chưa có trong tay các sự việc thực tế. Làm như vậy khiến cho nhận định của ta dễ bị chệch lắm.
- Anh sẽ có ngay các dữ kiện, vì đường Brixton đây rồi và ngôi nhà kia kìa!
- Đúng rồi! Dừng lại, bác xà ích.
Còn một trăm mét nữa mới đến hiện trường nhưng holmes cứ đòi xuống xe để đi bộ.
Ngôi nhà số 3 đường Lauriston có một vẻ sầu thảm ghê rợn. Đó là ngôi nhà thứ ba trong một dãy bốn nhà nằm thụt vào trong một tí. Hai ngôi nhà có người ở, hai ngôi kia bỏ hoang. Hai nhà bỏ hoang này bày ra hai dãy cửa sổ buồn bã và trần trụi, chỉ trừ thỉnh thoảng đây đó có hai chữ “Cho thuê” để chảy dài vệt sơn trên các ô cửa kính lem luốc. Từ hè đường vào đến nhà phải qua một mảnh vườn nhỏ mọc lưa thưa những cây con khẳng khiu, ốm yếu. Cắt ngang mảnh vườn là một lối đi hẹp, rải sỏi đá trộn lẫn lẫn đất sét màu vàng ệch. Tất cả khu vực này đều sũng nước vì trời mưa suốt đêm. Bao quanh mảnh vườn là bức tường gạch cao khoảng một mét, bên trên lại có hàng rào gỗ. Đứng tựa lưng vào bức tường này là một viên cảnh sát cao lớn, xung quanh có đám người rảnh việc đang cố nghển mắt vào trong nhà.
Tôi tưởng holmes sẽ xông thẳng vào nhà và lao ngay vào việc. Nhưng không! Với một vẻ uể oải giả tạo, anh đi đi lại lại trên hè đường, lơ đãng nhìn đất, nhìn trời, nhìn các ngôi nhà bên kia đường và hàng rào gỗ. Xem xét xong, anh bước trên lớp cỏ mọc ven lối đi, luôn luôn dán mắt xuống đất. Hai lần anh dừng lại và có một lần tôi thấy anh thoáng nở một nụ cười và khẽ reo lên một tiếng vui mừng. Có nhiều vết chân trên nền đất sét ướt, nhưng vì cảnh sát đã dẫm nát lối đi này rồi, tôi không hiểu bạn tôi có thể hy vọng rút ra ở đấy được điều gì.
Ở cửa nhà, chúng tôi được một gã cao lớn đón tiếp. Mặt tái mét, tóc rối bù, tay cầm một quyển sổ, anh ta vội vã tiến về phía chúng tôi, nồng nhiệt siết chặt tay holmes:
- Ông đến, thật tốt quá. Tôi chưa đụng chạm đến gì hết.
- Trừ chỗ này – holmes đáp, tay chỉ lối đi – Một đàn trâu bò giá có xéo qua đây cũng không thể phá hoại nhiều hơn. Nhưng có lẽ ông đã rút ra xong những kết luận của mình rồi mới cho phép xảy ra tình trạng này, có phải không, ông greson?
Nhà thám tử nói lảng:
- Tôi quá bận ở bên trong. Ông lestrade cũng có mặt tại đây. Tôi tưởng ông ta phải để mắt đến chuyện này.
Holmes nhìn tôi, trợn tròn mắt, giọng châm chọc:
- Đã có mặt ông và ông lestrade rồi, chẳng còn gì cho người thứ ba khám phá nữa.
Greson xoa hai tay với nhau, vẻ hài lòng:
- Chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể làm. Dẫu sao, đây là một vụ kỳ quặc và tôi biết ông vốn thích những vụ như thế.
- Ông đến đây bằng xe ngựa?
- Không.
- Cả ông lestrade cũng không chứ?
- Phải.
- Thế thì chúng ta vào trong xem gian phòng đi.
Sau ý kiến không ăn nhập gì với câu nói vừa rồi, holmes vào trong nhà. Greson bước theo, vẻ mặt ngơ ngác.
Một hành lang nhỏ, bụi bặm dẫn đến nhà bếp và phòng ăn. Có hai ô cửa, một ở về phía bên trái và một ở về phía bên phải hành lang. Rõ ràng một trong hai cửa này đã bị đóng kín từ nhiều tuần nay. Cửa kia là cửa mở vào phòng ăn, nơi đã diễn ra tấn thảm kịch đầy bí ẩn. holmes bước vào, tôi theo ngay.
Đây là một gian phòng rộng, hình vuông, không có thứ đồ đạc nào nên càng có vẻ rộng. Tường phủ bằng một loại giấy rẻ tiền, có nhiều chỗ ẩm ướt loang lổ và vài ba chỗ giấy bị bong ra, thòng xuống, để lộ lớp vữa vàng khè bên trong. Đối diện với cửa ra vào là một lò sưởi, mặt lò làm bằng tấm đá giả cẩm thạch trắng. Ở một mé mặt lò sưởi có cắm mẩu nến bằng sáp đỏ. Chiếc cửa sổ duy nhất của gian phòng lem luốc đến nỗi ánh sáng mờ đục bên ngoài rọi qua nhuốm lên khắp gian phòng một màu xám nhờ nhờ thê lương.
Người chết nằm sóng xoài trên sàn, hai con mắt trợn trừng nhìn lên trần nhà. Nạn nhân khoảng bốn mươi ba hay bốn mươi tư tuổi, người tầm thước, vai rộng, tóc quăn và đen, râu rậm xén ngắn. Mặc một chiếc áo đuôi tôm dày nặng, bên trong là chiếc áo gi-lê bằng dạ tốt, quần dài màu sáng, cổ áo và cửa tay áo trắng tinh. Một chiếc mũ đứng, sang trọng và rất sạch nằm ngay trên sàn nhà, cạnh nạn nhân. Hai bàn tay nắm chặt, cánh tay dang rộng, chân quắp vào nhau cho thấy cuộc vật lộn với tử thần đã diễn ra hết sức khốc liệt. Trên nét mặt cứng đờ còn in một nỗi kinh hoàng. Nét mặt nhăn nhúm thành một vẻ độc ác ghê sợ đó, cộng với cái trán ngắn, cái mũi tẹt dí, hàm răng nhô ra, cùng với tư thế kỳ quặc càng làm cho người chết có một vẻ rất giống loài khỉ. Tôi đã từng thấy cái chết dưới nhiều hình dạng, nhưng chưa bao giờ thấy nó dưới dạng thảm khốc đến như vậy.
Lestrade vóc người gầy gò, mặt choắt, đứng ở cửa chào chúng tôi:
- Vụ này sẽ ồn ào đây. Nó vượt tất cả những vụ tôi đã được chứng kiến.
- Không có một vết tích nào – greson nói.
- Không có mảy may – lestrade xác nhận.
Holmes đến cạnh xác nạn nhân, quỳ gối xuống và xem xét rất cẩn thận.
- Hai ông đã kiểm tra kỹ là không có thương tích gì chứ? – holmes chỉ những giọt máu và những vết máu có rất nhiều xung quanh xác chết.
Cả hai thám tử của Sở mật thám Anh cùng kêu lên:
- Hoàn toàn chắc chắn.
- Thế thì tất nhiên máu này là của một kẻ thứ hai, chắc là của hung thủ, nếu như đây là một vụ ám sát.
Trong khi nói, những ngón tay nhanh nhẹn của anh chạy lăng quăng chỗ này chỗ kia khắp nơi, sờ nắn, lần mò, xem xét, còn con mắt vẫn đượm cái vẻ xa vắng.
Sau cùng, holmes ngửi môi người chếtrồi xem đế giày người ấy.
- Không ai xê dịch xác này chứ?
- Không.
- Bây giờ các ông có thể cho chuyển về nhà xác được rồi.
Greson đã có sẵn một cái cáng và bốn người giúp việc. Khi cái xác được xốc lên thì có một chiếc nhẫn rơi xuống sàn, lestrade chộp lấy chiếc nhẫn, ngắm nghía với con mắt kinh ngạc, reo lên:
- Đã có mặt một người đàn bà ở đây! Một chiếc nhẫn cưới đây mà!
Vừa nói, ông ta vừa chìa chiếc nhẫn đặt trong lòng bàn tay ông ta ra cho chúng tôi xem. Không có gì nghi ngờ: chiếc vòng tròn nhỏ xíu mộc mạc bằng vàng này đã từng trang điểm cho ngón tay của một cô dâu.
- Thế thì càng thêm rắc rối – greson đánh giá.
- Ông có dám chắc là chiếc nhẫn lại không giúp ta chút nào không? Ngoài ra, ông thấy có những gì trong các túi áo, túi quần nạn nhân? – holmes nhận xét.
Greson chỉ những đồ vật được bày ra trên những bậc thang dưới cùng ngoài cửa buồng.
- Tất cả ở đây. Một chiếc đồng hồ bằng vàng khắc số 97.163 ở cửa hàng Barraud, Luân Đôn. Một dây xà tích vàng, dầy dặn và rất nặng, một chiếc nhẫn vàng có khắc biểu tượng của một hội kín. Một chiếc kẹp ca vát bằng vàng, chạm thành hình đầu chó, một cái ví đựng danh thiếp bằng da loại tốt, trong đựng những danh thiếp ghi tên Enoch J.Drebber ở trong thành phố Cleverland phù hợp với những chữ viết tắt E.J.D thêu trên quần áo. Không có ví tiền nhưng có mấy đồng tiền, cộng lại là bảy bảng Anh. Hai bức thư, một bức đề gửi cho E.J.Drebber và bức kia gởi cho một kẻ nào đó tên là Stanggerson.
- Gửi về địa chỉ nào?
- Gửi đến sở giao dịch chứng khoán Mỹ. Cả hai bức thư đều là của Công ty vận chuyển tàu biển Guion và cùng nơi đến, ngày giờ khởi hành các chuyến tàu của họ, xuất phát từ Liverpool. Rõ ràng nạn nhân sắp sửa lên tàu đi New York.
- Các ông đã điều tra về một người mang tên là Stanggerson này chưa?
- Điều tra ngay chứ! – greson đáp – Tôi đã cho đăng lời nhắn tin trên tất cả các báo hàng ngày và cử người đến sở giao dịch chứng khoán Mỹ, nhưng chưa về.
- Các ông đã liên lạc với Cleverland chưa?
- Chúng tôi đã đánh điện sáng nay.
- Các ông đã đặt những câu hỏi như thế nào trong điện?
- Chúng tôi chỉ tường thuật tỉ mỉ án mạng và nói sẽ rất biết ơn nếu nhận được mọi tin tức có thể có giúp chúng tôi làm sáng tỏ vụ này.
- Ông có hỏi tỉ mỉ về một điểm nào đó mà các ông coi là thiết yếu không?
- Tôi có nói đến Stanggerson.
- Ngoài ra không nói gì khác? Liệu có thể có một chi tiết nào đấy làm đầu mối cho toàn bộ vụ này không? Các ông có nên đánh điện lại không?
- Tôi đã điện đi tất cả những gì tôi cần hỏi rồi – greson nói với vẻ bị xúc phạm.
Holmes cười thầm và hình như định có một lời nhận xét thì lestrade từ gian phòng đằng trước quay lại, xoa hai tay với vẻ hài lòng, giọng khoa trương:
- Ông greson ạ, tôi vừa mới phát hiện một chi tiết hết sức hệ trọng. – Mắt lestrade sáng lên. Ông ta mừng rỡ ra mặt vì đã thắng đồng nghiệp của mình một điểm.
- Mời các ông lại đây! – lestrade hối hả trở lại gian phòng khi nãy – Đây, các ông đến đứng ở chỗ này này.
Ông ta bật một que diêm và giơ lên cao sát mặt tường, giọng đắc thắng:
- Các ông nhìn đây!
Ở mé tường này, một mảnh giấy dán tường lớn đã bị bong, rơi đi đâu mất, để lộ một khoảng tường trát vữa thô nhám, vàng ệch, hình vuông. Trên khoảng tường trần trụi, có ai đã nguệch ngoạc viết những chữ mang màu đỏ sẫm bằng máu khô: “Rache”.
Nhà thám tử hồ hởi, nói tiếp:
- Chi tiết này bị bỏ sót vì đây là chỗ tối nhất trong phòng. Thủ phạm đã viết chữ này bằng chính máu mình. Ta hãy nhìn vết này, chỗ máu đã chảy dọc trên tường. Chi tiết này đã loại trừ khả năng đây là một vụ tự sát. Tại sao hắn viết tại nơi này? Tôi xin nói lý do. Các ông có thấy ngọn nến trên mặt lò sưởi không? Lúc bấy giờ, ngọn nến này được thắp sáng và chỗ này trở thành chỗ sáng nhất trên bức tường.
- Giờ đây, đã phát hiện hết rồi, ông thấy ý nghĩa nó ra sao? – greson vặn hỏi với vẻ khâm phục.
- Kẻ này đang định viết tên Rachel, nhưng không kịp viết cho trọn tên. Các ông hãy nhớ lấy lời tôi: khi vụ này được làm sáng tỏ, các ông sẽ thấy một người đàn bà tên là Rachel dính líu vào đây. Ông cứ tin đi, ông holmes!
- Tôi xin lỗi – holmes nói với lestrade khi thấy tiếng cười của mình đã làm cho anh chàng bực tức – Ông là người đầu tiên cho chúng ta thấy chi tiết này, và xem chừng kẻ viết chữ này là nhân vật thứ hai trong vụ án. Tôi chưa có dịp xem kỹ gian phòng, nhưng bây giờ, mạn phép các ông, tôi sẽ xem xét một lát.
Nói xong, anh rút trong túi ra một cây thước dây và một kính lúp, dò soát khắp căn phòng, lúc thì dừng lại hồi lâu, lúc quỳ hẳn gối xuống sàn; thậm chí có lúc nằm xoài, úp bụng xuống sàn. Anh bị thu hút vào công việc đến nỗi hình như quên hẳn chúng tôi, vì anh lầm bầm nho nhỏ một mình, thỉnh thoảng lại khẽ reo lên, xuýt xoa, làu bàu hay huýt sáo miệng. Những hành động ấy có thể diễn đạt những hy vọng của anh, song cũng có thể coi là những lời anh tự khích lệ trong công việc của mình.
Trong hai mươi phút, anh mải mê tìm tòi, dùng thước đo một cách tỉ mỉ khoảng cách giữa những dấu vết hoàn toàn vô hình đối với tôi. Đôi khi, anh lại úp cái thước dây vào tường. Ở một chỗ trên sàn nhà, anh hết sức thận trọng thu nhặt một nhúm nhỏ thứ bụi xam xám và cất vào phong bì. Sau cùng anh dùng kính lúp soi từng nét chữ của cái từ bí ẩn trên tường. sau đó, anh có vẻ hài lòng, cất thước dây và kính lúp vào túi, đưa ra một nhận xét:
- Có người bảo rằng thiên tài là khả năng lao động hết sức kiên trì. Định nghĩa ấy không hoàn toàn chính xác nhưng áp dụng vào công việc của người thám tử thì rất đúng.
Greson và lestrade đã theo dõi mọi động tác của nhà thám tử tư với một vẻ tò mò. Họ cùng lên tiếng hỏi:
- Ông có ý kiến gì không, ông holmes?
Bạn tôi đáp, giọng đầy châm chọc:
- Cho tôi được phép giúp các ông một tay có khác gì làm hoen mờ vinh quang của các ông trong vụ này. Các ông sẽ tự giải quyết nó một cách chóng vánh và trọn vẹn, để một kẻ thứ ba xen vào thật là đáng tiếc. Dẫu vậy, tôi sẽ lấy làm hân hạnh được giúp các ông. Trong khi chờ đợi, tôi muốn gặp viên cảnh sát đã phát hiện ra xác nạn nhân. Các ông có thể cho tôi biết và địa chỉ người ấy được không?
Lestrade nhìn vào quyển sổ tay:
- Rance. Hiện giờ anh ta đã hết ca làm việc. Ông có thể lại nhà anh ta ở số 46 đường Audley, khu Kensington.
Holmes ghi địa chỉ và bảo tôi:
- Bác sĩ Watson, ta đến gặp anh chàng ấy đi – Rồi quay sang các nhà thám tử của Nhà nước: - Đây là một vụ ám sát, và thủ phạm là một người đàn ông… Một người đàn ông lực lưỡng, cao hơn một mét tám mươi, tuổi trung niên. So với tầm vóc thì chân hơi nhỏ. Hắn đi giày mũi vuông, hút xì gà Trichinopoli. Hắn đến đây cùng với nạn nhân trên một chiếc xe ngựa bốn bánh. Con ngựa kéo xe có ba móng sắt cũ và một móng sắt mới ở chân trái trước. Thủ phạm có bộ mặt đỏ gay, móng tay phải của hắn đặc biệt dài.
Hai thám tử nhà nước nhìn nhau với nụ cười hoài nghi. Greson lên tiếng:
- Nếu vậy, nạn nhân bị giết bằng cách nào?
- Bằng thuốc độc – holmes trả lời vắn tắt rồi ra về, nhưng trước khi bước qua ngưỡng cửa, anh còn quay lại nói thêm – Còn một chi tiết này nữa, ông lestrade ạ. Rache trong tiếng Đức có nghĩa là trả thù, vậy ông đừng mất thời giờ tìm kiếm cô Rachel làm gì.
Sau ngón đòn nhẹ này, holmes bỏ về, để lại đằng sau hai địch thủ há hốc mồm nhìn nhau.
4. Lời khai của cảnh sát John Rance.
Lúc chúng tôi rời ngôi nhà số 3 đường Lauriston thì đã một giờ trưa. Holmes kéo tôi đến trạm bưu điện gần nhất, gửi đi một bức điện dài. Sau đó, anh gọi xe ngựa bảo đánh đến địa chỉ mà lestrade đã ghi cho.
- Không gì giá trị bằng những nhân chứng trực tiếp. Thực ra, vụ này đã được xác định rồi, nhưng hỏi để biết thêm vài chi tiết cũng không thừa.
- Có thực các chi tiết mà anh vừa nói là đúng không?
- Điều đầu tiên tôi nhận ra ngay khi đến hiện trường là một chiếc xe ngựa đã in bánh thành hai cái rãnh sâu cạnh bờ hè. Trước đêm hôm qua, trời không mưa một tuần. Vậy thì chiếc xe đã để lại vết bánh chỉ có thể đỗ ở đây sau cơn mưa đêm qua. Tôi thấy cả các dấu chân một con ngựa. Một trong những vết chân này sắc nét hơn cả ba vết chân khác, điều đó chứng tỏ con ngựa có một chiếc móng mới đóng. Có một chiếc xe ngựa đã đến đây sau khi trời mưa và theo lời greson cho biết sáng nay không thấy nó đâu, ta suy ra chiếc xe của hắn đã đến rồi đi trong đêm và do đó, nó chính là chiếc xe chở hai người kia đến ngôi nhà.
- Nghe ra khá đơn giản. Nhưng còn về tầm vóc của hung thủ?
- Có gì đâu! Ta có thể căn cứ vào chiều dài của bước chân mà suy ra chiều cao của người. Tôi đã thấy vết chân của người thứ hai trên lớp đất sét ở ngoài nhà và trên lớp bụi trong gian phòng. Ngoài ra, tôi còn có một cách khác để kiểm tra cách tính của tôi. Khi viết trên tường, người ta thường viết ngang tầm mắt mình. Chữ viết kia, như tôi đã đo được, ở cách mặt đất đúng một mét tám mươi. Dễ như bỡn, phải không bác sĩ?
- Thế còn tuổi hắn?
- Một người có thể dễ dàng phóng bước một mét ba mươi phân thì không thể là một người luống tuổi. Một mét hai mươi nhăm là chiềi dài của một vũng nước trên lối đi qua vườn (mà hắn đã bước qua). Kẻ đi giày sang trọng cỡ nhỏ đã đi vòng qua vũng nước còn kẻ đi giày thô mũi vuông thì phóng bước ngang qua. Không có chút gì bí ẩn ở điểm này. Tôi chỉ áp dụng vào trong nếp sống hàng ngày một vài nguyên lý quan sát và suy đoán mà tôi đã nêu lên trong bài báo của tôi thôi. Có điều gì khác anh thấy khó hiểu nữa không?
- Móng tay và xì gà?
- Mấy chữ trên tường được viết bằng một ngón tay trỏ nhúng trong máu. Chiếc kính lúp đã giúp tôi nhận ra là khi viết, ngón tay người này đã cào mạnh lên lớp vữa trát tường, điều này chỉ có thể xảy ra nếu người này có móng tay dài. Tôi tìm thấy rải rác trên sàn một ít tro đen và xốp, chỉ có loại xì gà Trichinopoli mới cho một thứ tàn như vậy. Chính những điều vụn vặt vậy làm cho nhà thám tử có tài khác với loại thám tử như greson và lestrade.
- Còn bộ mặt đỏ?
- Bộ mặt đỏ là một kết luận hơi táo bạo. Thôi không nên hỏi nhiều.
Tôi đưa tay xoa trán:
- Đầu tôi xoay như chong chóng. Càng nghĩ càng không biết đâu mà lần. Tại sao hai người ấy lại đến ngôi nhà bỏ không? Người đánh xe chở họ đến hiện nay ra sao? Làm thế nào người này lại ép buộc được người kia uống thuốc độc? Máu ở đâu ra? Hung thủ giết người để làm gì? Tại sao lại có một chiếc nhẫn phụ nữ? Tại sao hung thủ viết chữ “Rache” trước khi bỏ chạy?
Bạn tôi nở một nụ cười đồng tình:
- Anh đã tóm tắt ngắn gọn và chính xác những điều nan giải của vụ này. Hãy còn khá nhiều khía cạnh khó hiểu khác nữa. Còn về phát hiện của anh chàng lestrade kia? Chữ này không phải do một người Đức viết. Nếu anh chú ý, anh sẽ thấy chữ A được viết hơi theo kiểu chữ viết của người Đức. Thế nhưng, người Đức chính cống bao giờ cũng viết theo dạng chữ La-tinh, vì vậy ta có thể khẳng định rằng những chữ này không phải do một người Đức viết mà là một kẻ muốn giả làm người Đức, nhưng vụng về. Nhưng thôi, bác sĩ watson; cắt nghĩa hết các phép thuật của mình thì nhà phù thuỷ chẳng còn gì là cao tay nữa. Cũng vậy, nếu tôi bày tỏ với anh quá nhiều phương pháp làm việc của tôi, anh sẽ đi đến kết luận là tôi rút cuộc cũng chẳng có gì đặc biệt cả.
- Không khi nào! Anh đã đưa phép suy đoán của anh đến chỗ gần thành một môn khoa học chính xác như chưa từng có trên thế giới này.
Những lời tôi nói và vẻ khâm phục trên nét mặt tôi khiến holmes đỏ mặt vì sung sướng.
- Tôi xin kể thêm với anh. Kẻ đi giày cỡ nhỏ và kẻ đi giày mũi vuông cùng đến trên một chiếc xe, cùng đi trên lối đi qua vườn. Vào nhà, kẻ đi giày cỡ nhỏ đi đi lại lại ngang dọc gian phòng. Tôi có thể đọc thấy điều đó trên lớp bụi, tôi còn có thể đọc được là càng đi, hắn càng nổi xung lên, có thể thấy rõ ở bước chân ngày một dài của hắn. Khởi đầu ta đã có một điểm xuất phát đúng, vậy phải xúc tiến gấp lên thôi, vì chiều nay tôi muốn đi nghe hoà nhạc.
Câu chuyện giữa hai chúng tôi diễn ra trên chiếc xe ngựa đang lăn bánh. Đến những ngõ ngách bẩn thỉu và gớm ghiếc nhất, chiếc xe bỗng dừng lại.
- Đến chung cư Audley rồi, ở trong kia kìa – Người xà ích chỉ một kẽ nứt nhỏ hẹp giữa một dãy nhà bằng gạch đen sì – Tôi chờ các ông ở ngoài này.
Lối đi nhỏ hẹp dẫn chúng tôi đến một cái sân gạch hình vuông, xung quanh là những căn nhà nhớp nhúa. Đi qua một nhóm trẻ con rách rưới và một loạt dây phơi quần áo, chúng tôi tìm đến căn hộ số 46. Bên cửa có một tấm biển nhỏ bằng đồng khắc tên Rance. Hỏi ra, chúng tôi được biết viên cảnh sát đã đi ngủ. Người nhà đưa chúng tôi vào chờ ở gian nhà ngoài.
Một lát sau, viên cảnh sát ra tiếp, vẻ hơi cáu kỉnh:
- Tôi đã báo cáo hết ở đồn cảnh sát rồi.
Holmes rút ra một đồng tiền vàng, mân mê với vẻ tư lự:
- Chúng tôi muốn nghe chính anh kể lại.
Viên cảnh sát thay đổi hẳn thái độ:
- Tôi sẵn sàng.
Rance ngồi xuống chiếc ghế đệm, cau mày lại với vẻ mặt của người không muốn để sót một chi tiết nào.
- Ca đi tuần của tôi là từ 10 giờ tối đến 6 giờ sáng. Vào lúc 11 giờ đêm, xảy ra một vụ đánh nhau ở gần quán rượu “Con hươu trắng”, ngoài ra khá yên tĩnh. Đến 1 giờ, trời bắt đầu mưa và tôi gặp Harry, viên cảnh sát đi tuần phía đường Holland Grove. Chúng tôi nói với nhau dăm ba câu chuyện ở góc phố Henrietta. Một lát sau, vào khoảng 2 giờ, tôi tự nhủ mình phải đi một vòng về phía đường Brixton. Phố xá yên tĩnh. Tôi không gặp ai cả, tuy có thấy một hai chiếc xe. Tôi đi thong thả, vừa đi vừa nghĩ tới một ly rượu. Bỗng nhiên một vạch ánh sáng lọt ra từ cửa sổ một ngôi nhà làm tôi chú ý. Tôi vốn biết hai ngôi nhà ở đường Lauriston vẫn bỏ không. Vì vậy tôi ngờ rằng có một chuyện gì không bình thường. Khi tôi vào đến cửa nhà…
- …Thì anh đứng lại và quay ra chỗ cửa vườn. Tại sao?
- Vâng, đúng thế. Nhưng quái lạ, sao mà ông biết? Khi tôi đến cửa nhà, cảnh vật im lìm và vắng vẻ đến nỗi tôi phải quay trở lại cửa vườn, xem có thấy ngọn đèn tuần tra của Harry không. Nhưng không thấy bóng một ai cả.
- Anh không thấy ai ngoài phố à?
- Không một ai, ngay một con chó cũng không. Lúc bấy giờ, tôi trở lại, đẩy cánh cửa. Cánh cửa mở ra dễ dàng, bên trong hoàn toàn yên tĩnh. Tôi bước vào gian phòng có ánh sáng. Dưới ánh sáng của một ngọn nến cháy chập chờn trên mặt lò sưởi, tôi thấy…
- Được rồi, tôi biết anh thấy những gì rồi. anh đã đi vòng quanh gian phòng vài ba lần, anh đã quỳ gối xuống bên cạnh xác chết, rồi anh đi ngang qua gian phòng, thử mở cánh cửa gian bếp và…
Rance bật đứng dậy, nét mặt hoảng hốt, con mắt ngờ vực:
- Ông nấp ở chỗ nào mà nhìn thấy hết các hoạt động của tôi?
Holmes cười vui vẻ và đặt tấm danh thiếp của mình lên bàn:
- Chớ bắt giữ tôi về vụ án mạng này. Tôi là một trong những người săn đuổi con mồi chứ không phải là con mồi đâu. Anh kể tiếp đi. Sau đó anh làm gì?
Rance ngồi xuống, chưa hết bàng hoàng:
- Tôi trở ra cửa, huýt còi. Nghe tiếng còi, Harry và hai viên cảnh sát khác kéo đến.
- Lúc đó ngoài phố vẫn không có ai à?
- Vâng, ít ra là không có ai có thể giúp tôi.
- Anh nói thế là thế nào?
Viên cảnh sát cười nhăn cả mặt:
- Trong đời tôi đã gặp khá nhiều đứa say, nhưng chưa bao giờ thấy ai say như gã này. Gã đứng ngoài cửa khi tôi ở trong nhà bước ra. Tựa người vào hàng rào gỗ, gã hét toáng lên một bài hát quen thuộc ở các quán rượu. Gã đứng cũng không vững chứ đừng nói đến giúp tôi một tay.
- Gã đó thuộc dạng như thế nào?
Rance có vẻ khó chịu trước câu hỏi lạc đề:
- Tôi đã bảo là gã say mềm mà, say khướt, không biết trời đất là gì nữa. Nếu chúng tôi không vướng tay vào vụ này thì đã đưa gã về đồn rồi.
- Mặt gã thế nào? Gã mặc quần áo gì? Anh có thấy điều gì đặc biệt không? – holmes nôn nóng ngắt lời anh ta.
- Chắc là không có gì đặc biệt, vì tôi và Harry phải đỡ gã. Người gã cao lớn, mặt đỏ, phía dưới mặt có quấn…
- Thôi đủ rồi, sau đó ra sao?
- Lúc bấy giờ chúng tôi đâu có rỗi rãi để mà bận tâm đến gã – Viên cảnh sát trả lời với vẻ mếch lòng – Tôi cam đoan là gã đi ngay về nhà.
- Gã mặc quần áo gì?
- Áo khoác ngoài màu nâu.
- Tay có cầm cái roi nào không?
- Roi à? Không.
- Hẳn gã đã bỏ quên – Bạn tôi lẩm bẩm – Sau đấy anh không nghe thấy hoặc nhìn thấy một chiếc xe ngựa nào à?
- Không.
- Xin đãi ông bạn đồng tiền vàng này – holmes đứng dậy, tay cầm lấy mũ – Anh Rance này, đêm qua lẽ ra anh đã giật được anh lon đội trưởng rồi đấy. Gã say rượu là người nắm giữ cái chìa khóa tìm ra vụ bí mật này. Chúng tôi đang tìm hắn. Thôi, ta đi đi bác sĩ!
Chúng tôi trở ra xe, để mặc viên cảnh sát ngồi ngẩn người và lo lắng.
Trong khi xe chạy về phố Baker, holmes nói, giọng ngao ngán:
- Dịp may có một không hai đã đến với hắn mà hắn để tuột mất.
- Tôi vẫn thấy tối như bưng. Đúng là hình dáng gã say rượu kia rất khớp với sự miêu tả của anh về nhân vật thứ hai trong tấn bi kịch. Nhưng tại sao hắn quay trở lại ngôi nhà sau khi đã bỏ đi rồi? Đó không phải là thói thường hành động của bọn tội phạm.
- Chiếc nhẫn, bác sĩ ạ, vì chiếc nhẫn. Đó là lý do vì sao nó quay lại. Nếu ta không tìm được cách nào khác để tóm cổ nó, ta có thể bẫy nó bằng chiếc nhẫn. Rồi tôi sẽ tóm cổ được nó, tôi đánh cuộc với anh đấy. Thôi, bây giờ ta đi ăn cơm trưa rồi còn đi nghe hòa nhạc.
5. Cuộc viếng thăm của người khách lạ.
Các hoạt động trong buổi sáng hôm đó là quá nhiều, cho nên đến chiều, tôi thấy mệt. holmes đi nghe hoà nhạc một mình còn tôi nằm dài trên chiếc đi-văng, cố chợp mắt lấy một vài tiếng, nhưng không sao ngủ được. Trí óc tôi bị kích thích quá mạnh vì những sự việc đã diễn ra và chứa đầy những giả thiết, những điều tưởng tượng kỳ quái nhất.
Càng nghĩ, tôi càng thấy giả thiết của holmes cho rằng nạn nhân đã bị đầu độc là kỳ quái. Nhưng nếu nạn nhân không phải chết vì thuốc độc thì vì cái gì, bởi lẽ trên cơ thể không có một thương tích nào cả. Và máu trên sàn là máu của ai? Chừng nào những câu hỏi ấy chưa được giải đáp, tôi cảm thấy giấc ngủ khó mà đến được.
Holmes vắng nhà khá lâu. Lâu đến nỗi anh không thể nào ở nơi hoà nhạc tất cả ngần ấy thời gian. Bữa ăn tối dọn ra xong, anh mới về.
- Thật là kỳ thú – holmes vừa nói vừa ngồi vào bàn ăn – Darwin cho rằng khả năng tạo ra âm nhạc và thưởng thức âm nhạc đã tồn tại ở con người từ lâu, trước khi con người biết nói. Có thể vì lẽ ấy mà ngày nay chúng ta chịu ảnh hưởng êm ái của âm nhạc. Trong tâm hồn chúng ta còn lưu lại những ký ức mơ hồ về những thời kỳ mông muội ấy.
- Đó là một tư tưởng rất vĩ đại – Tôi nhận xét.
- Tư tưởng của chúng ta phải vĩ đại ngang tầm với tự nhiên khi ta muốn tìm hiểu tự nhiên. Nhưng sao thế? Vụ án mạng làm anh bồn chồn à?
- Đúng thế.
- Tôi hiểu tâm trạng anh. Trong vụ này có một khía cạnh bí ẩn. Nó kích thích trí tưởng tượng. Khi mà trí tưởng tượng không bị kích thích thì ta không thấy khủng khiếp. Anh đã đọc báo buổi chiều chưa?
- Chưa.
- Bài tường thuật không kẻ lại chi tiết khi người ta nhấc xác nạn nhân lên thì có một chiếc nhẫn rơi ra. Không nói đến chiếc nhẫn càng hay.
- Vì sao?
- Anh hãy đọc lời nhắn tin này. Sáng nay tôi đã gửi đăng trên các báo, ở mục “Của rơi”: “Đã nhặt được một chiếc nhẫn cưới trên đường Brixton, đoạn từ quán rượu “Con hươu trắng” đến góc phố Holland Grove. Ai đánh rơi, mời đến gặp bác sĩ watson ở số nhà 221B, phố Baker nhận về, từ tám giờ đến chín giờ tối nay”.
- Tôi xin lỗi đã mượn tên anh. Nếu dùng tên tôi thì thế nào một trong hai tên ngốc kia cũng nhận ra và dính vào đây.
- Không sao cả. Nhưng nhỡ có ai đến, tôi lại không có chiếc nhẫn nào.
- Ồ, có chứ, nhẫn đây! – holmes đưa cho tôi một chiếc nhẫn – Chiếc nhẫn này được đấy chứ, giống chiếc kia như in.
- Ai sẽ đến xin lại của rơi này?
- Còn ai vào đấy! Kẻ mặc chiếc áo khoác ngoài màu nâu, có bộ mặt đỏ đi giày mũi vuông. Nếu hắn không đích thân đến thì hắn sẽ phái một tên đồng loã.
- Liệu hắn có cho là quá nguy hiểm không?
- Không đâu. Con người ấy dám liều mọi chuyện hơn là để mất chiếc nhẫn. Theo tôi, hắn đã đánh rơi chiếc nhẫn khi cúi xuống trên xác nạn nhân. Lúc ra khỏi nhà, hắn thấy mất chiếc nhẫn nên vội vã quay lại, nhưng lúc ấy cảnh sát đã tới vì hắn vô ý để ngọn nến vẫn cháy. Lúc bấy giờ hắn đã phải giả vờ say để đánh tan mọi nghi ngờ do sự có mặt của hắn. Hắn cho rằng mình đã đánh rơi chiếc nhẫn sau khi ra khỏi nhà. Trong trường hợp đó, hắn sẽ làm gì? Hắn sẽ hối hả tìm đọc các mục đăng “Của rơi”. Hắn sẽ mừng lắm. Việc gì hắn phải sợ bị bẫy. Hắn sẽ đến cho mà xem. Trong vòng một giờ nữa.
- Rồi sao nữa?
- Ồ, khi ấy, anh có thể để mặc tôi với hắn. Anh có súng đấy không?
- Tôi còn giữ khẩu súng ngắn với mấy viên đạn.
- Anh nên lau chùi và nạp đạn vào. Ta sẽ gặp một con người rất liều mạng.
Tôi về phòng riêng và làm theo lời khuyên của holmes. Khi tôi trở lại với khẩu súng, bàn ăn đã được dọn sạch và holmes đang bận với môn giải trí ưa thích của mình: gảy dây đàn vĩ cầm. Thấy tôi vào, anh nói:
- Câu chuyện thêm nhiều chi tiết đậm đà. Tôi vừa mới nhận được điện trả lời từ Mỹ. Cách nhìn nhận vấn đề của tôi đã được xác nhận là đúng.
- Cụ thể là…? – Tôi sốt sắng hỏi.
- Cất súng đi. Khi nhân vật của chúng ta xuất hiện, anh hãy nói chuyện với hắn một cách bình thường và để mặc tôi xử sự. Đừng làm hắn hoảng lên bằng những lời quá gay gắt.
- Bây giờ đã 8 giờ rồi.
- Được, hắn sẽ tới trong vài phút nữa. Anh hé mở cánh cửa một chút. Thế được rồi. Bây giờ anh tra chìa khoá vào ổ khóa trong đi. Cám ơn! A! Nhân vật của chúng ta đến rồi kia.
Trong lúc anh nói, tôi nghe tiếng chuông giật mạnh. holmes nhẹ nhàng đứng dậy, kê lại ghế của mình gần cửa. Có tiếng chân người hầu vang lên trong phòng tiền sảnh, tiếng chìa khoá vặn trong ổ khoá và tiếng cửa mở.
Một giọng thanh thanh nhưng khá rắn rỏi:
- Đây có phải là nhà bác sĩ watson không?
Chúng tôi không nghe thấy câu trả lời của người hầu, nhưng cánh cửa khép lại và có người bước lên cầu thang. Bước chân ngập ngừng, dè dặt. holmes lắng tai nghe, có vẻ hơi ngạc nhiên. Có ai đó bước chậm chạp ngoài hành lang rồi gõ cửa khe khẽ.
- Mời vào! – Tôi hét to.
Sau lời mời của tôi, một bà cụ rất già, da nhăn nheo bước vào. Bà cụ hình như bị chói mắt vì ánh sáng trong phòng. Bà cúi đầu xuống chào rồi cứ đứng nhìn chúng tôi với con mắt hấp háy đầy ghèn, bàn tay run rẩy lục tìm cái gì trong túi. Tôi liếc nhanh nhìn holmes. Nét mặt anh biểu lộ một vẻ thất vọng. Bà lão rút trong túi ra một tờ báo:
- Thưa các ông quý hoá, tôi đọc được mẩu tin này trên báo nên mới đến – Bà lão lại cúi chào một lần nữa – Đó là chiếc nhẫn của con gái tôi, tên nó là Sa-ly, nó lấy chồng cách đây một năm và chồng nó hiện đang làm việc trên tàu thuỷ. Chồng nó sẽ nói sao khi về thấy vợ không còn chiếc nhẫn cưới nữa. Thằng đó vốn là một đứa không thuần tính, nhất là khi rượu vào. Thưa hai ông, con gái tôi tối qua nó đi xem xiếc với…
- Đây có phải là chiếc nhẫn của cô ấy không? – Tôi hỏi.
- Xin tạ ơn Chúa! Tối nay, con Sa-ly sẽ mừng lắm đấy. Đúng là chiếc nhẫn của nó.
- Nhà cụ ở đâu? – Tôi hỏi và cầm lấy bút chì.
- Số 13 phố Duncan khu Houndsditch. Xa đây lắm và đi mệt lắm.
Giọng holmes đanh lại:
- Không có rạp xiếc nào từ Brixton đến khu Houndsditch cả.
Bà cụ quay sang holmes, nhìn chằm chằm:
- Ông này hỏi nhà tôi. Còn nhà con Sa-ly thì ở số 3 khu Mayfield đường Peckham.
- Tên cụ là gì?
- Tên tôi là Soi-ơ, chồng nó là Đen-nít, một đứa nhanh nhẹn và khá ngoan khi ở trên biển, ai nấy đều quý hoá. Nhưng khi nó lên bờ thì ôi dào, rượu chè, trai gái…
- Cụ Soi-ơ, nhẫn của cụ đây – Tôi ngắt lời bà cụ khi thấy holmes ra hiệu – Chiếc nhẫn này đúng là của con gái cụ, tôi rất vui lòng trả lại cho chủ của nó.
Lầm bầm mãi những lời cảm ơn và chúc tụng, bà cụ cất chiếc nhẫn vào trong túi rồi lại lê chân bước xuống thang gác.
Holmes lao vội về phòng anh khi bà cụ vừa mới ra khỏi phòng. Vài giây sau, anh trở lại, người trùm trong chiếc áo măng-tô lớn và một cái khăn quàng kín cổ kín mũi.
- Tôi đi theo bà lão đây. Anh chờ tôi ở nhà nhé.
Cổng nhà vừa mới khép lại sau lưng người khách già thì holmes đã xuống hết cầu thang. Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy bà già đang bước chầm chậm qua đường và bạn tôi ở cách đó không xa.
Lúc holmes đi, kim đồng hồ chỉ 9 giờ tối. Tôi ngồi hút thuốc và đọc sách. Chuông đồng hồ điểm 10 giờ, tôi nghe tiếng chân những người hầu gái đi ngủ. Mười một giờ, đến lượt tiếng chân rắn rỏi hơn của bà chủ nhà lên giường. Gần đến nửa đêm thì có tiếng mở khoá cửa. holmes vừa mới thò đầu vào buồng, tôi đã thấy ngay là hỏng việc. Nét mặt holmes có vẻ vừa buồn cười vừa bực bội, hai tâm trạng đó hình như vật lộn với nhau cho đến khi vẻ buồn cười thắng thế thì anh bật cười thành tiếng, buông mình xuống chiếc ghế bành, tự giễu mình:
- Giá mà Scotland Yard biết chuyện này, họ sẽ được một trận cười chế nhạo.
- Có chuyện gì vậy?
- Khi đi được một đoạn đường thì mụ già bắt đầu đi khập khiễng, lộ rõ là đau chân. Được một quãng nữa, mụ đứng lại, gọi một chiếc xe ngựa ngang qua. Tôi vội mon men đến gần, nhưng lo như vậy là thừa, vì mụ nói to đến nỗi đứng ở bên kia đường cũng nghe rõ. Mụ hét lên: “Cho tôi đến nhà số 14 phố Duncan, khu Houndsditch”. Tôi nghĩ bụng mụ này xem ra có vẻ ngay thật đấy. Khi đã thấy rõ ràng mụ ngồi vào trong xe rồi, tôi mới thu mình nhảy lên ngồi nấp trong nhíp xe, đây là một trò mà người thám tử nào cũng sở trường. Thế rồi xe chạy, chạy mãi, không dừng lại một giây nào cho đến khi tới phố Duncan. Sắp đến nhà, tôi từ chỗ ngồi nhảy xuống, đi vẩn vơ ngoài phố, mắt vẫn không rời chiếc xe. Tôi thấy xe dừng lại, người đánh xe nhảy xuống. Sán lại gần, tôi thấy hắn đang tức tối xem xét khoang xe trống không và tuôn ra một tràng câu chửi. Đến hỏi nhà số 13 tôi được biết chủ nhà là một người làm bánh ngọt tên là Kê-uýt và ông chưa nghe đến tên Soi-ơ lẫn Đen-nít bao giờ.
Tôi kinh ngạc:
- Mụ già đã chuồn khỏi xe trong khi xe đang chạy mà anh và người đánh xe đều không biết?
- Để cho bị lừa như vậy, chính chúng ta mới là bà già. Đó chắc là một gã trai trẻ, nhanh nhẹn, đóng kịch giỏi, cải trang khéo. Có lẽ hắn biết hắn bị theo dõi nên đã dùng cái mẹo ấy để lừa tôi. Điều đó chứng tỏ rằng nhân vật mà chúng ta tìm kiếm có những người bạn tài ba. Thôi bây giờ anh có vẻ mệt đấy, bác sĩ ạ. Anh nên đi ngủ đi.
Tôi để holmes ngồi một mình bên lò sưởi, và rất khuya tôi còn nghe thấy những âm thanh nỉ non khe khẽ trên cây đàn của anh. Tôi biết anh đang suy ngẫm về bài toán kỳ quặc mà anh muốn giải đáp.
6. greson tìm thấy gì.
Các báo hôm sau đăng đầy những bài viết về “Vụ án bí ẩn ở Brixton”. Dưới đây là nội dung tóm tắt một số bài.
Tờ “Tin điện hằng ngày” nhận xét:
“Trong lịch sử khoa hình sự, chưa mấy khi xảy ra một tấn bi kịch với những tình tiết kỳ quặc hơn thế. Nạn nhân mang tên Đức, những chữ bằng máu trên tường, động cơ ám sát không có. Tất cả những chi tiết ấy cho thấy án mạng này là do những kẻ tị nạn chính trị và những kẻ hoạt động xã hội gây ra. Các đảng phái cấp trên có nhiều chi nhánh hoạt động tại Mỹ, và nạn nhân có lẽ đã vi phạm các luật lệ không thành văn của các đảng phái ấy nên đã bị trừng trị”.
Bài báo kết thúc bằng lời khiển trách chính phủ và yêu cầu chính phủ giám sát chặt chẽ hơn các ngoại kiều trú ngụ trên đất Anh.
Tờ “Lá cờ” bình luận:
“Những vụ trọng án như vụ này đã diễn ra dưới một chính thể tự do. Chúng sinh ra từ sự hỗn tạp trong dân chúng và sự suy yếu của chính quyền. Nạn nhân là một người Mỹ đã sinh sống ít lâu tại Luân Đôn. Ông ta đã ở trọ một thời gian tại nhà bà Sác-pen khu Camberwell. Thư ký riêng của ông ta là Stanggerson đã cùng đi với ông ta trong các chuyến đi. Hai người đã từ biệt bà chủ trọ hôm thứ ba, ngày mồng 4 tháng này và đã đi ra ga Euston để đáp chuyến tàu tốc hành đi Liverpool. Sau đó ít lâu, người ta thấy hai người đứng với nhau trên sân ga. Sau nữa thì không biết gì về họ cho đến khi người ta tìm thấy xác ông Drebber trong một ngôi nhà bỏ trống trên đường Brixton cách nhà ga Euston hàng mấy dặm đường. Nạn nhân đã đến đây bằng cách nào và đã chết như thế nào? Những câu hỏi này hãy còn nằm trong màn bí mật. Chúng tôi vui mừng được biết các thanh tra greson và lestrade đã cùng bắt tay vào vụ án và tin rằng hai quan chức mẫn cán và tài năng ấy sẽ sớm rọi ánh sáng vào vụ khó hiểu này”.
Tờ “Tin hàng ngày” kết luận:
“Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là một án chính trị. Sự chuyên chế của chính quyền các nước ở lục địa Châu Âu đã xua đuổi về bờ biển nước ta nhiều người có thể trở thành những công dân tốt nếu họ không bị ám ảnh và kích động bởi ký ức về những nỗi đau khổ và gian truân của họ. Trong đám người ấy có một luật hết sức nghiêm ngặt, nó kết án “tử” cho bất cứ ai vi phạm nó. Cần phải tìm cho ra viên thư ký Stanggerson để hỏi một số chi tiết liên quan đến nạn nhân. Cuộc điều tra đã tiến được một bước khi tìm ra được địa chỉ nhà trọ của nạn nhân. Sự khám phá ấy hoàn toàn nhờ tài năng của ông greson”.
Holmes và tôi rất buồn cười khi đọc những dòng này:
- Tôi đã bảo với anh mà, dù có thế nào, lestrade và greson vẫn được tán dương. Một anh ngốc bao giờ cũng tìm được một anh ngốc hơn để khâm phục mình.
- Nhưng gì thế này? – Tôi kêu lên thì vừa vặn lúc ấy có nhiều tiếng bước chân ở dưới nhà cùng với những lời gắt gỏng của bà chủ nhà.
- Đó là đội cảnh sát nghiệp dư ở phố Baker – holmes nghiêm trang trả lời. Cùng lúc đó khoảng hơn một chục đứa trẻ lem luốc ùa vào phòng chúng tôi.
- Nghiêm – holmes hô lên và bọn trẻ con xếp thành hàng như một dãy những bức tượng nhỏ - Lần sau các cháu đợi ở ngoài phố nhé, chỉ để cho một mình Uy-ghin lên báo cáo thôi. Uy-ghin có tìm thấy không?
- Không ạ, chúng cháu chưa tìm ra! – Một đứa trong bọn trẻ thưa.
- Kém thế! Tiếp tục đi cho đến khi tìm ra. Tiền thù lao đây – holmes chia cho mỗi đứa một đồng si-linh – Bây giờ, các cháu hãy toả nhanh đi khắp nơi rồi trở về đây với một báo cáo có kết quả hơn.
Bọn trẻ chạy ào xuống cầu thang, một lát sau đã nghe thấy tiếng chúng léo nhéo ngoài phố.
- Mấy đứa trẻ này còn hữu ích hơn một tá cảnh sát. Nhìn thấy ai có vẻ là người nhà nước, người ta đã lo giữ miệng rồi. Trái lại, bọn trẻ này len lỏi được vào khắp nơi và nghe được đủ mọi thứ chuyện. Chúng không bị ai để ý và luồn lách nhanh như chạch.
- Anh sử dụng chúng cho vụ Brixton đấy à?
- Đúng. Có một điểm tôi muốn tìm hiểu. Đây chỉ là vấn đề thời gian, rồi thể nào cũng ra. Thế nào? Ai kia như greson ngoài phố. Anh ta mang hai chữ “hớn hở” ghi từng nét trên mặt. Anh ta đến chỗ ta đây.
Có tiếng chuông giật mạnh và vài ba giây sau, nhà thám tử có mái tóc vàng lên cầu thang, bước ba bậc một và lao vào phòng chúng tôi như một tia chớp. greson vồ lấy tay holmes, siết chặt và reo lên:
- Ông sherlock holmes thân mến, ông hãy khen ngợi tôi đi. Tôi đã làm sáng tỏ hết, rõ như ban ngày.
Hình như có một thoáng lo lắng lướt qua gương mặt diễn cảm của bạn tôi. Holmes hỏi:
- Ông muốn nói là ông đã tìm được hướng đúng rồi à?
- Hướng đúng! Ồ, chúng tôi đã tóm được hung thủ rồi.
- Tên hắn là gì?
- Ác-tơ, thiếu uý hải quân – greson dài giọng, ưỡn ngực, xoa hai tay vào nhau.
Holmes thở phào, hé nở một nụ cười và nói:
- Mời ông ngồi và thử một điếu xì gà đi. Chúng tôi rất muốn biết ông đã tiến hành công việc như thế nào. Ông dùng một cốc uýt-ki pha nước nhé.
- Xin vâng. Những nỗ lực ghê gớm mà tôi đã phải bỏ ra trong hai ngày qua làm tôi bải hoải cả người.
- Chúng tôi rất hân hạnh được ông quá bộ đến chơi – holmes nói, giọng nghiêm trang – Xin ông cho biết ông đã làm thế nào để đi đến kết quả hết sức đáng khen ấy.
Greson ngồi sâu trong chiếc ghế bành, khoan khoái rít xì gà rồi bỗng nhiên vỗ đùi đánh tét một cái:
- Trong vụ này, anh chàng lestrade ngốc nghếch cứ tưởng mình khôn ngoan đã hoàn toàn đi nhầm đường. Anh ta đi tìm viên thư ký Stanggerson mà Stanggerson thì dính líu đến vụ này không hơn gì một đứa trẻ chưa ra đời. Hẳn bây giờ lestrade đã tóm cổ hắn rồi.
Ý nghĩ ấy khiến cho greson cười sằng sặc mãi:
- Ông đã tìm ra hướng của ông như thế nào? – holmes hỏi.
- Khó khăn đầu tiên đặt ra với tôi là tìm cho ra tung tích nạn nhân. Có người thường cứ ngồi ở nhà chờ người ta đọc các lời nhắn tin của mình trên báo mà đến cung cấp tin tức cho mình, greson thì không làm việc như thế ông bác sĩ, ông còn nhớ chiếc mũ bên cạnh nạn nhân không?
- Có, chiếc mũ của cửa hàng Underwood và con số 129, đường Camberwell – holmes trả lời.
- Tôi tin tưởng ông không để ý. Ông đã đến cửa hàng chưa? – greson chột dạ hỏi.
- Tôi không đến – holmes đáp.
greson thở phào yên tâm:
- Chớ bao giờ coi thường một cơ hội, dù là nhỏ.
- Đối với một bộ óc lớn, không có gì là nhỏ - Giọng holmes triết lý.
- Đúng thế. Tôi đến cửa hàng Underwood hỏi chủ hiệu, xem ông ta đã bán cho ai một chiếc mũ kiểu như vậy. Chủ hiệu xem sổ sách thấy người mua tên là Drebber, trọ tại nhà bà Sác-pen.
- Giỏi lắm, rất giỏi! – holmes khẽ nói.
- Tôi đến gặp bà Sác-pen. Tôi thấy bà ta mặt tái mét và buồn rầu. Cô con gái hai mắt đỏ hoe và miệng run rẩy khi nghe tôi hỏi chuyện. Chi tiết ấy không thoát khỏi con mắt quan sát của tôi. Ông sherlock holmes, ông biết đấy, khi ta dò đến gần hướng đúng, các dây thần kinh của ta như run lên. Tôi mới hỏi hai mẹ con: “Bà và cô biết gì về cái chết của ông Drebber không?”. Người mẹ gật đầu. Cô con gái oà khóc. Tôi hỏi:
- Ông Drebber rời nhà bà ra tàu vào lúc mấy giờ?
Bà ta cho biết là vào lúc tám giờ. Người thư ký của ông ấy là Stanggerson nói có hai chuyến tàu, một chuyến chạy vào lúc 9 giờ 15 và chuyến kia vào lúc 11 giờ. Họ phải kịp chuyến thứ nhất.
- Đó là lúc bà gặp ông ta lần cuối cùng phải không? – Tôi lại hỏi.
Người mẹ có vẻ hốt hoảng. Mấy giây sau bà ta mới nói được một tiếng “vâng”.
Mấy phút im lặng trôi qua, cô con gái nói:
- Mẹ ạ, ta nên nói thẳng với quý ông đây. Chúng tôi đã lại gặp ông Drebber.
Bà Sác-pen giơ hai tay lên trời, gieo mình xuống ghế, kêu lên:
- Cầu Chúa tha tội cho con! Con giết anh con đó!
- Anh Ác-tơ muốn ta nói thẳng ra sự thật – Cô con gái đáp với giọng rắn rỏi.
Tôi bảo họ:
- Bà và cô nên kể hết với tôi. Những lời khai nửa vời còn tệ hại hơn là không khai gì cả.
Bà mẹ mắng con:
- Mong sao tai họa rơi xuống đầu mày – Rồi quay sang tôi – Tôi xin kể hết. Ông đừng nghĩ rằng tôi đang lo cho thằng con trai tôi. Nó hoàn toàn vô tội. Tôi lo là lo rằng dưới con mắt ông và con mắt người khác, nó có thể bị coi là có liên can. Dù sao, chắc chắn là không thể nào có chuyện đó. Tính tình nó, nghề nghiệp nó, những hành vi đã qua của nó sẽ chứng minh cho nó.
- Tốt nhất là bà đừng có giấu giếm gì hết. Hãy tin rằng nếu con bà vô tội thì không vì thế mà nó có tội thêm đâu.
Bà mẹ bảo con gái:
- Có lẽ con để mặc mẹ với ông khách thì hơn – Cô con gái đi ra và bà nói tiếp – Thưa ông, tôi không có ý định kể với ông, nhưng vì con gái tôi đã nói hớ, tôi không còn cách nào khác.
- Đó là điều tốt nhất – Tôi nói.
- Ông Drebber đã ở trọ nhà tôi trong ba tuần cùng với người thư ký là ông Stanggerson. Ông này là một người điềm tĩnh, kín đáo, nhưng ông chủ của ông ta thì thô lỗ, hung tợn. Ngay tối hôm đầu đến trọ, ông ấy đã tỏ ra rất xấu tính. Ông ấy có những cử chỉ và lời ăn tiếng nói sàm sỡ với các chị hầu. Và với cả con gái tôi, có lần bất thần ông ấy ôm chặt lấy nó và ôm nó.
- Việc gì bà phải chịu đựng những chuyện ấy. Tôi nghĩ bà có thể tống khứ họ chứ?
- Lạy Chúa! Giá mà tôi không nhận cho ông ấy trọ ngay sau tối đầu tiên! Nhưng ông ấy trả tiền trọ cao, mà hiện nay đang là mùa vắng khách! Tôi ở goá, thằng con trai tôi trong hải quân tốn kém cho tôi lắm. Vì vậy tôi cố chịu đựng. Nhưng sự lăng mạ cuối cùng này thì quá lắm. Vì thế, tôi đã bảo ông ấy đi tìm chỗ trọ khác. Và hai thầy trò ông ấy đã bỏ đi.
- Rồi sao nữa?
- Nhìn họ ra đi, tôi thấy nhẹ người. Thằng con trai tôi lúc này đang nghỉ phép. Tôi không hé răng với nó về chuyện này vì tính nó nóng nảy và rất quý em gái. Nhưng! Không đến một giờ sau, có người giật chuông ngoài cửa và tôi thấy ông Drebber quay lại. Ông ấy cứ xông vào buồng nơi tôi đang ngồi với con gái tôi, làu bàu những câu không đầu không đuôi, đâu như nói về chuyến tàu mà ông ấy nhỡ thì phải. Sau đó, ông ấy quay sang con gái tôi, rủ nó trốn đi. Con gái tôi hoảng sợ, toan bỏ đi nhưng ông ấy nắm lấy cổ tay nó, cố kéo nó về phía cửa. Tôi kêu lên và đúng lúc ấy thằng Ác-tơ chạy đến. Chuyện gì đã diễn ra lúc bấy giờ, tôi không biết nữa. Tôi nghe thấy những lời chửi rủa và tiếng xô xát. Tôi quá sợ, không dám ngẩng đầu lên. Đến khi dám nhìn thì tôi thấy con trai tôi đứng ở giữa cửa, tay cầm một cái gậy, cười to. Nó nói: “Thằng này chừa rồi, không dám quấy rầy nhà mình nữa đâu. Để cho con đi theo xem nó xem sao”. Sau đó, nó cầm lấy mũ và ra đi. Sáng hôm sau, chúng tôi nghe tin ông Drebber đã chết một cách bí ẩn. Lời khai ấy do chính mồm bà Sác-pen nói ra kèm theo những tiếng thở dài và những chỗ ngắt quãng. Tôi đã ghi bằng tốc ký lời khai của bà ấy để khỏi có sự nhầm lẫn sai sót.
- Rất lý thú – holmes nói và cố ghìm một cái ngáp – Rồi sau ra sau?
- Khi bà Sác-pen khai xong, tôi thấy vụ này quy lại còn có mỗi một điểm. Tôi chiếu luồng mắt của mình vào bà ta theo cái cách mà tôi luôn luôn thấy có hiệu quả đối với phụ nữ, tôi hỏi con trai bà ta về nhà lúc nào.
- Thưa, tôi không biết.
- Bà không biết à?
- Vâng, nó có chìa khoá cửa riêng.
- Nó về sau khi bà đã đi ngủ?
- Vâng.
- Bà đi ngủ vào lúc mấy giờ?
- Khoảng mười một giờ.
- Như vậy con trai bà đã vắng nhà ít nhất hai giờ?
- Vâng.
- Cũng có thể là vắng bốn hoặc năm giờ?
- Vâng.
- Nó đã làm gì trong thời gian ấy?
- Tôi không biết – Bà ta trả lời, mặt lại tái đi.
Cố nhiên, sau đó tôi đã tìm ra trung uý Ác-tơ. Tôi đem theo hai viên cảnh sát và đã bắt giữ hắn. Khi tôi đụng vào vai hắn, hắn hỏi tôi, hãy còn hăng như một con gà chọi:
- Chắc ông bắt tôi vì tội đồng loã trong cái chết của tên vô lại Drebber chứ gì?
Chúng tôi đã nói gì với hắn đâu mà hắn đã đoán ra. Câu hỏi ấy, rõ là rất đáng ngờ.
- Rất đáng ngờ - holmes đồng tình.
- Hắn còn giữ cái gậy to mà theo lời khai của mẹ hắn, hắn đã cầm khi đuổi theo Drebber. Một cái gậy to bằng gỗ sồi.
- Vậy giả thiết của ông là thế nào?
- Hắn đã theo Drebber đến tận đường Brixton. Đến đấy, giữa hai người lại cãi nhau nữa, và trong lúc xô xát, Drebber bị một gậy vào bụng và chết ngay tức khắc, không để lại dấu vết gì. Đêm hôm ấy trời mưa, đường vắng nên Ác-tơ đã lôi xác nạn nhân đến tận ngôi nhà trống. Còn về ngọn nến, những vết máu và chữ viết trên tường, chẳng qua chỉ là những cái mẹo nhằm đánh lạc hướng nhà chức trách thôi.
- Rất hay! – holmes khích lệ - Ông greson, quả thực ông tiến bộ đấy. Ông sẽ còn đi xa hơn nhiều.
Nhà thám tử kia trả lời với vẻ kiêu hãnh:
- Tôi tự hào là đã giải quyết vụ án này khá suôn sẻ. Gã thanh niên khai rằng hắn đi theo Drebber được một lúc thì Drebber phát hiện ra hắn và nhảy lên một chiếc xe để bỏ xa hắn. Điều làm tôi thích thú là lestrade đang lao theo một hướng tắc tị. Ông ta sẽ chẳng thu lượm được điều gì. Nhưng, ơ kìa, thiêng chưa, vừa nói đến thì ông ấy đã xuất hiện.
Quả vậy, lestrade đi lên cầu thang trong khi chúng tôi mải chuyện trò, và bây giờ ông đã ở trong phòng. Vẻ tự tin và ung dung thường có của ông, nay đã biến đi đâu mất. Nét mặt lo lắng, quần áo xộc xệch, rõ ràng lestrade đến với ý định nhờ holmes giúp đỡ, và khi nhận ra đồng nghiệp của mình cũng có mặt ở đây, lestrade tỏ ra ngại ngùng, lúng túng. Lestrade đứng như trời trồng giữa phòng, tay mân mê chiếc mũ không biết để đâu, cuối cùng nói:
- Đây quả là vụ án cực kỳ khác thường, không tài nào hiểu được.
- A! Ông tưởng thế à, ông lestrade? – Giọng greson đắc thắng – Tôi cũng đã đoán rằng ông sẽ đi đến kết luận ấy. Ông có tìm được viên thư ký Stanggerson không?
- Viên thư ký Stanggerson – Giọng lestrade nghiêm trọng – Đã bị ám sát vào lúc 6 giờ sáng nay tại khách sạn Holiday.
7. Một tia sáng trong đêm tối.
Cả ba chúng tôi đều sững người. greson bật dậy khỏi ghế đánh đổ chỗ rượu uýt-ki còn sót trong ly. Tôi lặng lẽ nhìn holmes, thấy anh mím môi, cau mày lẩm bẩm:
- Câu chuyện thêm rắc rối.
- Mà nó đã khá rắc rối rồi – lestrade làu bàu, ngồi xuống ghế - Tôi đến đúng lúc mọi người đang bàn luận thì phải.
- Này, ông lestrade, tin ấy có …chính xác không? – greson ấp úng hỏi.
- Tôi vừa mới có mặt ở phòng của Stanggerson. Tôi là người đầu tiên thấy xác ông ấy.
- Chúng tôi vừa mới được nghe cách hình dung vấn đề của ông greson – holmes nói – Ông lestrade, ông có thể cho chúng tôi biết ông đã thấy và đã làm những gì không?
- Tôi thú nhận là tôi nghi Stanggerson có dính líu vào cái chết của Drebber. Vì vậy nên tôi cố tìm ra tông tích viên thư ký. Ngày mồng 3, người ta thấy hai thầy trò họ đứng cùng với nhau tại nhà ga Euston vào lúc tám giờ rưỡi. Đến hai giờ sáng thì thấy xác Drebber tại đường Brixton. Vấn đề đặt ra với tôi là đi xác định xem Stanggerson đã làm gì và sau đó anh ta làm gì. Tôi đã đánh điện đi Liverpool, miêu tả hình dáng Stanggerson và yêu cầu cảnh sát sở tại kiểm tra các tàu biển nhổ neo đi Mỹ. Sau đó, tôi sục sạo tất cả các khách sạn, các quán trọ xung quanh nhà ga Euston. Tôi tự bảo rằng nếu hai người chia tay nhau thì Stanggerson sẽ đi kiếm một khách sạn khu vực lân cận để qua đêm và sáng hôm sau trở lại nhà ga.
- Rất có thể hai người đã hẹn trước với nhau ở một nơi nào đó – holmes đưa ra ý kiến của mình.
- Đúng thế. Tôi đã mất cả tối hôm qua đi điều tra mà không kết quả. Sáng nay, tôi lại bắt tay vào việc từ sớm và khoảng tám giờ, tôi đến khách sạn Holiday. Khi tôi hỏi trong khách sạn có người khách nào tên là Stanggerson không thì người ta trả lời là có.
- Ông là người mà ông ta đang chờ phải không? – Người ta hỏi tôi – Ông ấy chờ một người từ hai hôm nay.
- Hiện thời ông ấy ở đâu?
- Đang ở trong phòng ông ấy, trên gác. Ông ấy yêu cầu chúng tôi lên gọi ông ấy vào chín giờ sáng.
Chú bé đánh giày trong khách sạn dẫn tôi đến phòng Stanggerson, chỉ cho tôi cửa phòng và toan đi xuống thì tôi bỗng nhìn thấy một dòng máu đỏ rỉ qua khe cửa, chảy ngang qua hành lang và đọng lại thành một vũng nhỏ dọc tấm gỗ lát chân tường, mé bên kia hành lang. Tôi kêu lên một tiếng và chú bé đánh giày quay lại. Cửa buồng khoá phía trong. Chúng tôi lấy vai xô tung ra. Cửa sổ gian buồng để mở và bên cạnh cửa sổ là xác một người đàn ông mặc đồ ngủ ở tư thế nằm phủ phục. Nạn nhân chết khá lâu vì tay chân cứng và lạnh. Lật xác lên, nhân viên khách sạn nhận ra ngay đó là người đến thuê phòng dưới cái tên Stanggerson. Nạn nhân bị một nhát dao găm đâm vào mé sườn. mũi dao sâu đến tận tim. Bây giờ, đây là điều quái gở nhất trong vụ này. Các ông tưởng tượng xem có gì bên dưới cái xác?
Holmes cắt lời:
- Chữ “Rache” viết bằng máu.
- Đúng thế - Nỗi khiếp sợ lộ rõ trong giọng nói của lestrade và tất cả chúng tôi đều lặng đi một lúc.
Trong các hành động của tên hung thủ lạ mặt kia có một cái gì tuần tự và bí hiểm làm cho các tội ác của hắn càng thêm khủng khiếp.
Lestrade nói tiếp:
- Có người đã trông thấy hung thủ. Một người bán sữa đến cửa hàng của mình bằng lối đi men theo các chuồng ngựa ở mé sau khách sạn. Anh ta thấy một cái thang, thường vẫn để nằm dưới đất, nay được dựng lên, áp vào một cửa sổ mở rộng ở tầng hai. Anh ta đã đi qua chỗ cái thang rồi bỗng ngoái lại thì thấy một người đang tụt xuống. Người đó bình thản, ngang nhiên, khiến anh bán sữa tưởng là một bác thợ mộc đến làm việc cho khách sạn. Anh ta có cảm tưởng người kia có vóc dáng cao lớn, mặt đỏ sậm và mặc bộ đồ nâu. Hung thủ có lẽ đã ở lại trong phòng một ít lâu sau khi hạ sát nạn nhân vì chúng tôi tìm thấy chậu nước mà hắn đã rửa tay nhuộm màu máu, và thấy có những vết máu trên khăn trải giường hắn đã bình tĩnh chùi dao.
Tôi nhìn sang holmes khi nghe lời miêu tả hình dáng hung thủ rất khớp với sự miêu tả của bạn tôi. Anh hỏi:
- Ông có tìm thấy gì trong phòng khả dĩ cho biết thêm về hung thủ không?
- Không có gì. Stanggerson còn có trong túi cái ví tiền của Drebber nhưng hình như đó là điều thông thường giữa hai người vì Stanggerson là người chi tiêu mọi thứ. Ở hai vụ án này, động cơ chắc chắn không phải là tiền bạc. Không có giấy tờ, sổ sách gì trong túi nạn nhân, ngoài một bức điện gửi từ Cleverland cách đây một tháng ghi vẻn vẹn: “H đang ở Châu Âu”. Bức điện không ký tên.
- Còn gì khác nữa không? – holmes hỏi tiếp.
- Một cuốn tiểu thuyết đặt trên giường, cái tẩu thuốc để trên một chiếc ghế cạnh giường. Trên bàn có một cốc nước, và trên bậc cửa có một cái hộp nhỏ đựng hai viên thuốc.
Holmes ngồi bật dậy, reo lên vui vẻ:
- Khâu cuối cùng! Cuộc điều tra của tôi thế là trọn vẹn!
Hai nhà thám tử kia nhìn anh khó hiểu.
Bạn tôi nói với vẻ tin tưởng:
- Tôi đã có trong tay tất cả những sợi dây đã đan bện với nhau một cách rắc rối. Tất nhiên, còn có những chi tiết cần phải bổ sung. Tôi sẽ dẫn ra đây một bằng chứng về những điều tôi biết. Ông có đem theo mấy viên thuốc ấy không?
- Tôi có đây – lestrade liền giơ ra một cái hộp trắng nhỏ - Tôi giữ lấy nó cùng với cái ví và bức điện, định đem về nộp cho Sở cảnh sát. Tôi đem theo những viên thuốc này cũng là tình cờ thôi vì tôi coi chúng không có gì quan trọng.
- Xin ông đưa cho tôi – Holmes bảo – Này, bác sĩ, đây có phải là những viên thuốc thông thường không?
Hai viên thuốc trông rất giống những viên thuốc thông thường. Đó là những viên thuốc tròn, nhỏ, màu ngọc xám và gần như trong suốt. Tôi nhận xét:
- Viên thuốc trong và nhẹ, tôi nghĩ nó dễ hoà tan trong nước.
- Đúng thế - holmes nói – Bây giờ, xin các anh làm ơn xuống nhà đem hộ tôi lên đây con chó già ốm yếu mà hôm qua bà chủ nhà nhờ anh giúp nó sớm về chầu tổ tiên.
Tôi xuống nhà, ôm con chó lên. Mắt nó lờ đờ, hơi thở hổn hển. Thực vậy, mõm nó trắng như tuyết cho thấy nó đã sống quá cái thời hạn sống thông thường của một con chó. Tôi đặt nó xuống tấm nệm rơm.
- Bây giờ tôi sẽ bẻ một trong hai viên thuốc này ra làm đôi – holmes vừa nói vừa làm – Tôi cất đi một nửa vào trong hộp để dùng về sau. Một nửa kia, tôi bỏ vào chiếc cốc này cùng với một thìa nước. Ta sẽ thấy ông bạn bác sĩ của chúng ta đã đoán đúng là nó dễ tan trong nước.
- Nó có dính dáng gì đến cái chết của Stanggerson đâu? – lestrade nói, giọng bực tức.
- Kiên nhẫn một chút! Có dính dáng nhiều lắm. Bây giờ tôi pha thêm vào một chút sữa cho dễ uống. Đem cho chó, ta thấy nó vội vã tớp ngay.
Con vật uống hết chỗ nước pha sữa ấy, rồi liếm đĩa. Vẻ nghiêm trang của holmes đã khiến chúng tôi im lặng quan sát con vật. Nó nằm xuống trên chiếc ghế đệm, hơi thở nặng nề, sức khỏe của nó không tăng lên hoặc giảm đi sau khi uống.
Holmes rút đồng hồ ra xem và mỗi phút trôi qua, sự bực bội và thất vọng càng hiện rõ trên nét mặt anh. Anh bặm môi, gõ tay lên bàn, thể hiện sự nôn nóng cao độ. Tôi thấy thương anh trong khi các nhà thám tử kia nở một nụ cười giễu cợt.
- Không thể có chuyện ngẫu nhiên – Cuối cùng holmes kêu lên, từ chiếc ghế bành bật đứng dậy, lồng lộn như một con dã thú trong phòng – Đây không thể là một việc ngẫu nhiên được. Chính những viên thuốc mà tôi đã ngờ tham dự vào cái chết của Drebber, ta đã gặp lại chúng ở cái chết của Stanggerson. Vậy mà hiện giờ chúng lại không có tác dụng gì cả, thế là làm sao? Tôi đoán ra rồi!
Reo lên một tiếng mừng rỡ, holmes nhảy bổ về phía hộp thuốc, bẻ viên thuốc thứ hai làm đôi, lại thả một nửa vào cốc nước, cho thêm sữa rồi cho con chó uống. Lưỡi con chó chỉ vừa mới chạm vào chỗ nước ấy là toàn thân nó đã co giật dữ dội rồi nó nằm vật ra ngay đơ.
Holmes hít một hơi thở dài, quệt mồ hôi đọng trên trán:
- Trong hai viên thuốc vừa rồi, một viên chứa thuốc độc cực mạnh còn viên kia thì vô hại. Lẽ ra tôi phải hiểu điều đó ngay trước khi mở hộp.
Lời khẳng định này quá đỗi kỳ dị khiến tôi khó mà tin rằng bạn tôi còn đầy đủ lý trí. Tuy nhiên con chó chết nằm kia, nó chứng tỏ giả thiết của holmes là đúng. Tôi thấy hình như đám sương mù trong đầu tôi dần dần tan đi.
- Những điều này đối với các ông có vẻ lạ lùng – holmes nói tiếp - Ấy là vì ngay từ đầu cuộc điều tra, các ông đã không nắm được các dấu vết quan trọng ở trước mắt các ông. Tôi có cái may mắn là đã không để lọt cái dấu vết ấy, và tất cả những sự việc diễn ra sau đấy đều xác nhận giả thiết đầu của tôi. Việc khám phá vụ án này sẽ vô cùng khó khăn nếu như ta tìm thấy xác nạn nhân trên hè đường không kèm theo chi tiết nào trong số những chi tiết phụ lạ lùng và khác thường. Những chi tiết kỳ quái ấy, không làm cho vụ án khó khăn thêm mà…
Greson nghe bài diễn văn nhỏ của holmes với vẻ hết sức nôn nóng, cuối cùng không kìm được thêm nữa:
- Chúng tôi thừa nhận là ông có những phương pháp làm việc riêng rất độc đáo. Nhưng, giờ đây vấn đề là phải bắt được hung thủ. Bây giờ chúng tôi xin hỏi thẳng là ông đã biết hung thủ là ai chưa?
Lestrade phụ hoạ thêm:
- greson nói có lý, ông holmes ạ. Chúng tôi đã cố công gắng sức nhưng đều đã thất bại.
Tôi cũng thêm ý kiến:
- Mọi sự chậm trễ torng việc bắt giữ hung thủ có thể làm cho nó có thời gian gây thêm án mạng mới.
Bị mọi người dồn ép như vậy, holmes có vẻ lưỡng lự. Anh tiếp tục đi đi lại lại trong phòng, đầu gục xuống ngực, hai hàng lông mày nheo lại như thói thường ở anh trong những lúc mải mê suy nghĩ. Cuối cùng, holmes đột ngột dừng lại, nhìn thẳng vào mặt chúng tôi:
- Sẽ không xảy ra án mạng nào nữa. Các ông hỏi tôi có biết tên hung thủ không. Có, tôi biết. Tôi đã dự định bắt hắn từ lâu rồi, nhưng đây là một việc cần phải thận trọng, vì hắn là một kẻ lực lưỡng, khôn ngoan, liều lĩnh và được một kẻ không khéo giúp sức. Chừng nào hung thủ chưa biết chúng ta đã nắm