Follow us on...
Follow us on Facebook

VN-Zoom.com chung tay vì Cộng đồng

Kaka - ứng dụng hát Karaoke trên mobile



Chiêm ngưỡng BaoMoi đẹp "tuyệt diệu" trên Windows Phone

Vui thể thao quà ý nghĩa
Trang 1/3 1 2 3 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 15 trên 35
  1. #1
    tymaster's Avatar
    tymaster vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jan 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    79/24 bài viết
    VR power
    0

    Default Hướng dẫn chi tiết Lập trình với C#

    Bài này mình sưu tập được và tổng hợp kiến thức, có gì sai sót mong các đại ca bỏ qua cho nhé:
    Tổng quan:
    Tôi muốn nhấn mạnh rằng đừng bao giờ xem xét ngôn ngữ C# một cách tách biệt, nó luôn đồng hành với "Bộ khung .NET". C# là một trình biên dịch hướng .NET, nghĩa là tất cả các mã của C# luôn luôn chạy trên trên môi trường .NET Framework. Điều đó dẫn đến 2 hệ quả sau:

    Cấu trúc và các lập luận C# được phản ánh các phương pháp luận của .NET ngầm bên dưới.

    Trong nhiều trường hợp, các đặc trưng của C# thậm chí được quyết định dựa vào các đặc trưng của .NET, hoặc thư viện lớp cơ sở của .NET.

    Chính bởi tầm quan trọng của .NET, nên các bạn cần phải biết sơ qua về .NET trước khi đi vào ngôn ngữ C#. Đây cũng chính là mục đích của chương này.

    Chúng ta sẽ tìm hiểu xem chuyện gì sẽ xảy ra khi mã của các ngôn ngữ hướng .NET (bao gồm C#) được biên dịch và thực thi. Đây là một lĩnh vực rộng, chúng ta sẽ tìm hiểu kĩ hơn về Microsoft Intermediate Language (MS-IL), ngôn ngữ trung gian trong .NET mã của các ngôn ngữ khác đều phải được biên dịch về ngôn ngữ này trước khi thực thi. Cụ thể chúng ta sẽ tìm hiểu xem cách thức mà MS-IL với phần dùng chung Common Type System (CTS) và Common Language Specification (CLS) có thể cung cấp cho chúng ta sự tương hoạt giữa các ngôn ngữ hướng .NET. Chúng ta cũng sẽ trình bày các ngôn ngữ biết .NET khác bao gồm VB và C++.

    Sau đó chúng ta sẽ xem xét các đặc trưng khác của .NET, bao gồm các assembly, các namespace, và thư viện lớp cơ bản của .NET. Chúng ta sẽ kết thúc chương này bằng việc liệt kê vắn tắt về các loại ứng dụng mà chúng ta có thể tạo ra trong C#.

    Mối quan hệ giữa C# và .NET
    C# là một ngôn ngữ lập trình mới, và được biết đến với hai lời chào:

    Nó được thiết kế riêng để dùng cho Microsoft's .NET Framework (Một nền khá mạnh cho sự phát triển, triển khai, hiện thực và phân phối các ứng dụng)

    Nó là một ngôn ngữ hoàn toàn hướng đối tượng được thiết kế dựa trên kinh nghiệm của các ngôn ngữ hướng đối tượng khác.

    Một điều quan trọng cần nhớ C# là một ngôn ngữ độc lập. Nó được thiết kế để có thể sinh ra mã đích trong môi trường .NET, nó không phải là một phần của .NET bởi vậy có một vài đặc trưng được hỗ trợ bởi .NET nhưng C# không hỗ trợ và bạn cũng đừng ngạc nhiên khi có những đặc trưng C# hỗ trợ mà .NET không hỗ trợ (chẳng hạn như quá tải toán tử)

    Để tạo được những ứng dụng mang tính hiệu quả cao, chúng ta sẽ xem qua về hoạt động của .NET

    Common Language Runtime
    Trung tâm của .NET framework là môi trường thời gian chạy, gọi là Common Language Runtime (CLR) hoặc .NET runtime. Mã của các điều khiển trong CLR thường là mã có quản.

    Tuy nhiêu, trước khi được thực thi bởi CLR, mã được phát triển trong C# (hoặc các ngôn ngữ khác) cần phải được biên dịch.Quá trình biên dịch trong .NET xảy ra theo hai bước:

    Dịch mã nguồn thành Microsoft Intermediate Language (MS-IL)

    Dịch IL thành mã nền cụ thể bởi CLR

    Mới nhìn có vẻ hơi dài dòng. Nhưng thật sự, một tiến trình dịch hai mức là rất cần thiết, bởi vì trạng thái của Microsoft Intermediate Language (mã có quản) là chìa khóa cung cấp nhiều lợi ích trong .NET.

    Các lợi ích của mã có quản
    Microsoft Intermediate Language (thường được viết tắt là"Intermediate Language", hay "IL") tương tự như ý tưởng về mã Java byte, nó là một ngôn ngữ cấp thấp với những cú pháp đơn giản (dựa trên cơ sở mã số hơn là text), chính điều này sẽ làm cho quá trình dịch sang mã máy nhanh hơn. Hiểu kĩ các cú pháp này sẽ mang lại những lợi ích đáng kể.

    Độc lập nền
    Trước tiên, nó có nghĩa là các file chứa mã lệnh có thể chạy trên bất kì nền nào, vào thời gian chạy trình biên dịch cuối sẽ hoạt động và mã có thể chạy trên một nền cụ thể. Nói cách khác việc dịch mã nguồn sang Intermediate Language cho phép độc lập nền trong .NET, nó giống như cách dịch mã nguồn sang Java byte code cung cấp sự độc lập nền trong Java.

    Bạn cũng nên biết rằng sự độc lập nền của .NET chỉ là trên lí thuyết bởi vì tại thời điểm này, .NET chỉ có sẵn trong Windows. Tuy nhiên việc chuyển .NET sang những nền khác đang được khảo sát tỉ mỉ (xem ví dụ Mono project, một sự cố gắng tạo một thực thi mã nguồn mở trong .NET, tại địa chỉ ).

    Sự cải tiến trong thực thi
    Mặc dù chúng ta đã so sánh với Jave, IL thật sự có một chút khả quan hơn Java. IL luôn là trình biên dịch Just-In-Time, ngược lại Java byte code thì thường là thông dịch. Một trong những bất lợi của Java là vào lúc thực thi quá trình dịch từ java byte code sang mã máy tốn nhiều tài nguyên.

    Thay vì phải dịch toàn bộ ứng dụng một lần, trình biên dịch JIT sẽ biên dịch từng phần mã khi nó được gọi. Khi mã được dịch rồi, mã kết quả sẽ được giữ lại cho tới khi thoát khỏi ứng dụng, chính vì thế nó không phải biên dịch lại trong lần chạy kế tiếp. Microsoft quả quyết rằng cách xử lí này có hiệu lực cao hơn là dịch toàn bộ ứng dụng, bởi vì có trường hợp một khối lượng lớn mã của ứng dụng không bao giờ được sử dụng trong thời gian chạy. Khi sử dụng trình biên dịch JIT , các đoạn mã này sẽ không bao giờ được dịch.

    Chính vì thế chúng ta hi vọng rằng mã IL sẽ thực thi nhanh như là mã máy. Microsof cam kết chúng ta sẽ có một thay đổi lớn trong thực thi. Lời lí giải là, là lần dịch cuối cùng trong thời gian chạy, trình biên dịch JIT sẽ biết chính xác loại vi xử lí mà chương trình sẽ chạy. Có nghĩa là nó có thể tối ưu mã thi hành cuối cùng bằng cách tham chiếu đến các đặc trưng của từng các bộ lệnh ứng với các loại vi xử lí đó.

    Các trình biên dịch truyền thống đều có tối ưu mã, nhưng chúng chỉ có thể tối ưu độc lập không quan tâm đến loại vi xử lý mà chương trình sẽ chạy. Bởi vì trình biên dịch truyền thống biên dịch toàn bộ ứng dụng sang mã máy trước khi thực thi. Có nghĩa là trình biên dịch không hề biết loại vi xử lí mà chương trình sẽ được chạy, chẳng hạn nó có thể là một vi xử lí tương thích x86 hoặc một vi xử lí Alpha. Visual Studio 6, tối ưu cho cho một máy tương thích Pentium, bởi vậy mã mà nó sinh ra không đem lại lợi ích gì đối với các đặc trưng phần cứng của vi xử lí Pentium III. Trong khi đó, trình biên dịch JIT có thể thực hiện tối ưu giống như Visual Studio 6, ngoài ra nó còn có thể tối ưu cho các loại vi xử lí cụ thể mà mã chương trình sẽ chạy.

    Tương hoạt giữa các ngôn ngữ
    Chúng ta đã biết cách thức IL cho phép độc lập nền, trình biên dịch JIT có thể cải thiện quá trình thực thi. Tuy nhiên, IL cũng làm cho tương hoạt giữa các ngôn ngữ trở nên dễ dàng hơn. Bạn có thể biên dịch IL từ một ngôn, và mã này sau đó có thể tương hoạt với IL được biên dịch bởi một ngôn ngữ khác.

    Bây giờ chắc bạn đang tự hỏi rằng những ngôn ngữ nào có thể tương tác với C# trong .NET, hãy xem qua các ngôn ngữ biết .NET phổ biến sau.

    VB.NET
    Visual Basic đã được tân trang lại để có thể tương thích với công nghệ .NET. Từ việc phát triển Visual Basic trong những năm gần đây cho thấy rằng trong các phiên bản trước, Visual Basic 6, nó không tương thích với lập trình .NET. Ví dụ, nó đặt nặng vấn đề tích hợp COM, và nó chỉ đưa ra các sự kiện để phát triển, hầu hết mã nền không có sẵn trong mã nguồn. Không những thế, nó không thực sự hỗ trợ tính thừa kế và các kiểu dữ liệu chuẩn của Visual Basic không tương thích với .NET.

    Visual Basic đang được hoàn thiện trong Visual Basic .NET, cũng đừng ngạc nhiên khi sự thay đổi này xảy ra trên một diện rộng. Về phương diện thực hành bạn có thể xem VB.NET như là một ngôn ngữ mới. Mã VB 6 không không thể được biên dịch trong như mã VB.NET. Sự chuyển đổi từ lập trình VB 6 sang VB.NET yêu cầu một sự thay đổi lớn về mã. Tuy nhiên hầu hết các sự thay đổi này có thể được thực hiện một cách tự động bởi Visual Studio .NET (sự cải tiến của VS cho việc sử dụng .NET). Nếu bạn cố gắng đọc một đề án VB 6 trong Visual Studio .NET, nó sẽ cải tiến đề án của bạn, có nghĩa là nó sẽ viết lại mã nguồn VB 6 thành mã nguồn VB.NET. Điều đó có nghĩa là việc này sẽ gặp rắc rối khi bạn cắt ngang, bạn sẽ phải kiểm tra lại mã VB.NET mới để chắc rằng đề án của bạn vẫn chạy đúng.

    Một hiệu ứng phụ là không còn khả năng biên dịch .NET sang mã thực thi. VB.NET chỉ biên dịch sang IL, giống như C#. Nếu như bạn muốn tiếp tục mã hóa trong VB 6, bạn có thể làm như vậy, nhưng khi mã thực thi quá dài nó sẽ lờ đi .NET Framework, và bạn cần phải giữ lại Visual Studio 6 đã cài đồng thời phải hoàn toàn tin vào môi trường phát triển trong Visual Studio.

    Managed C++
    Vào lúc đó trong Visual C++ 6, C++ đã có một khối lượng lớn các mở rộng của Microsoft trong Windows. Với Visual C++ .NET, các mở rộng này được tăng thêm cho việc hỗ trợ .NET framework. Có nghĩa là mã nguồn C++ sẽ vẫn tiếp tục được dịch sang mã máy không có gì khác biệt. Cũng có nghĩa là nó sẽ chạy độc lập trong môi trường .NET. Nếu bạn không muốn mã C++ của bạn chạy trong môi trường .NET Framework, bạn có thể đơn giãn đặt dòng lệnh sau vào đầu mã nguồn của bạn:

    #using <mscorlib.dll>

    Bạn cũng có thể bỏ qua cờ /clr trong trình biên dịch, cờ này cho biết rằng bạn muốn biên dịch sang mã có quản, và nó sẽ phát ra IL thay vì mã máy. Có một điều thú vị trong C++ khi bạn biên dịch sang mã có quản, trình biên dịch có thể phát ra các IL có nhúng các mã máy. Điều này có nghĩa là bạn có thể pha trộn kiểu có quản và kiểu không quản trong mã C++. Bằng cách mã C++:

    class MyClass
    {

    Định nghĩa cho một lớp trong C++ , trong khi đó mã:

    __gc class MyClass
    {

    sẽ cho bạn một lớp có quản, giống như việc bạn viết một lớp trong C# hay VB.NET. Thật vậy, một thuận lợi của managed C++ so với C# là bạn có thể gọi các lớp không quản C++ từ mã có quản C++ bỏ qua tương thích COM.

    Trình biên dịch sẽ phát ra một lỗi nếu bạn cố gắng dùng những đặc trưng mà mã có quản của .NET không hỗ trợ trong (ví dụ, khuôn mẫu hay đa thừa kế). Bạn cũng sẽ nhận ra rằng bạn sẽ phải dùng các đặc trưng không thuần C++ (chẳng hạn từ khoá __gc trong ví dụ trên) khi sử dụng các lớp có quản.

    Bởi vì trong VC++ cho phép ********** bộ nhớ thủ công dưới dạng một con trỏ, trình biên dịch C++ không thể phát ra mã cho kiểu bộ nhớ an toàn CLR. Nếu ứng dụng của bạn thật sự cần phải nhận dạng kiểu bộ nhớ an toàn CLR, bạn cần phải viết mã nguồn trong các ngôn ngữ khác (như C# hay VB.NET).

    J++ and J#
    J++ vẫn được hỗ trợ cho chỉ vì mục đích tương thích trước đây. Microsoft không còn phát triển bất kì nền tảng nào hỗ trợ việc biện dịch sang máy Java ảo. Thay vì đó, Microsoft phát triển hai công nghệ tách biệt Java/J++ phát triển bên dưới ngọn cờ JUMP (Java User Migration Path) và "JUMP trong .NET".

    Công nghệ đầu tiên là Visual J#. Về bản chất nó được thêm vào Visual Studio.NET để cho phép bạn viết và biên dịch mã J++. Sự khác biệt đó là thay vì biên dịch sang một Java Virtual Machine, J# sẽ biên dịch sang IL, vì vậy nó sẽ hoạt động như là một ngôn ngữ của .NET. Ngừơi dùng J# sẽ có thể được hưởng các thuận lợi của các đặc tính của VS.NET. Microsoft tin răng người dùng J++ sẽ nhanh chóng nhận ra điều đó nếu họ thích làm việc trong với .NET.

    Sự lựa chọn thứ hai là công cụ tự động hỗ trợ việc chuyển mã J++ sang mã C#. Sự giống nhau giữa J++ và C# làm cho việc chuyển đổi này trở nên dễ dàng hơn.

    Không giống như J# cũng không như các công cụ chuyển đổi ngôn ngữ có sẵn như là một phần của .NET hay trong Visual Studio. NET, thay vì thế nó được cung cấp riêng. Để biết thêm thông tin liên hệ .

    Scripting languages
    Scripting languages đâu đó vẫn còn tồn tại, dù rằng về mặt tổng quát, tầm quan trọng của chúng đã giảm sút cùng với sự ra đời của .NET. JScript, được cải tiến lên JScript.NET. ASP.NET (một cải tiến từ ASP dành cho .NET, giải thích sau) các trang có thể được viết bằng JScript.NET, và bây giờ nó có thể chạy trên JScript.NET như là một ngôn ngữ biên dịch hơn là một ngôn ngữ thông dịch và nó có thể tạo ra các mã kiểu mã JScript.NET mạnh hơn. Với ASP.NET không có lí do gì để dùng scripting languages trên cac trang web server-side. VBA vẫn được sử dụng như là một ngôn ngữ cho Microsoft Office và Visual Studio macros.

    COM and COM+
    COM và COM+ không là công nghệ chính của .NET, bởi vì các thành phần cơ bản của chúng không thể dịch sang IL (mặc dù vẫn có thể làm điều đó khi tổ chức thành phần COM bằng mã C++). Tuy nhiên COM+ vẫn còn là một công cụ quan trọng, từ khi đặc tính của nó được nhân lên trong .NET. Ngoài ra, thành phần COM vẫn còn làm việc và .NET kết hợp chặc chẽ các đặc trưng tương hoạt COM để mã có quản có thể gọi đến COM và ngược lại
    Tham Gia Website minigame nào! Game gì cũng có.

    Website: Hidden Content
    Forum: Hidden Content

  2. Có 10 thành viên cảm ơn tymaster cho bài viết này:
    abonlahor (01-11-2009), carleton2 (14-09-2008), crazy_hippi_titi (26-08-2008), dst (03-07-2008), forme90 (18-09-2012), hotboy_101291 (26-05-2011), tesulakata (30-05-2009), thansauth (18-03-2012), titlethanhtho (10-05-2011), __DJ__ (09-03-2009)

  3. #2
    tymaster's Avatar
    tymaster vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jan 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    79/24 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Tiếp theo:
    Assemblies
    Một assembly là một đơn vị luận lí chứa mã đã được biên dịch sang .NET. Chúng ta sẽ bàn kĩ về các assemblie trong chương 8, ở đây chúng ta sẽ nói sơ về nó.

    Một assembly là một tự mô tả đầy đủ, và nó giống một đơn vị luận lí hơn là một đơn vị vật lí, điều đó có nghĩa là nó có thể chứa trong nhiều file (thật vậy các assemblie động được lưu trong bộ nhớ không phải trong file). Nếu một assembly được lưu trong nhiều file, thì sẽ có một file chính chứa các con trỏ và các mô tả về các file khác của assembly.

    Chú ý rằng, câu trúc assembly được dùng chung cho cả mã thi hành và mã thư viện. Sự khác biệt duy nhất là assembly thi hành chứa lối vào chương trình chính trong khi assembly thư viện thì không có.

    Một điểm quan trọng trong các assembly là chúng chứa metadata dùng để mô tả các kiểu và phương thức được định nghĩa trong mã tương ứng. Một assembly, tất nhiên cũng chứ assembly metadata dùng để mô tả chính assembly đó. Assembly metadata này, chứa một vùng đựơc hiểu như là manifest, cho phép kiểm tra phiên bản và tình trạng của assembly.

    ildasm, một tiện ích có sẵn của Windows, có thể dùng để nghiên cứu nội dung của một assembly, bao gồm manifest metadata. Chúng ta sẽ lấy vi dụ về ildasm trong chương 8.

    Thật vậy một assembly chứa metadata của chương trình nghĩa là các ứng dụng hoặc các assembly khác có thể gọi mã trong môt assembly mà không cần tham chiếu đến Registry, hoặc một dữ liệu nguồn khác,. Một điểm quan trọng trong cách làm của COM cũ, các GUID của các thành phần và giao diện interfaces không thể đạt được từ Registry.

    Việc dàn trải dự liệu thành 3 định vị khác nhau đồng nghĩa với việc tạo ra mối nguy hiểm trong đồng bộ hoá, nó ngăn không cho các thành phần khác sử dụng. Với assemblies, sẽ không còn những mối nguy hiểm như vậy, bởi vì tất các các metadata được lưu trong bộ lệnh thi hành của chương trình. Chú ý rằng dù cho các assemblie được lưu thành một vài file, chúng vẫn không gây vấn đề gì về đồng bộ hoá dữ liệu. Đó là vì nhờ vào file assembly chính, file này chứa đường dẫn, các thông tin chi tiết, mã băm, và nội dung của các file khác, điều đó có nghĩa là nếu một file bị thay thế, hay bị phá hoại, nó sẽ được tìm ra và sẽ không cho load.

    Assemblies bao gồm 2 loại: các shared và private assembly.

    Private Assemblies
    Private assemblies là kiểu đơn giản nhất. Nó chứa phần mềm và chỉ được dùng cho phần mềm đó. Với phần mô tả này bạn có thể chứa đựng các private assemblie hòng cung cấp cho một ứng dụng kiểu thực thi và một số thư viện, các thư viện này chứa mã sẽ được thi hành bởi ứng dụng đó.

    Hệ thống đảm bảo rằng private assemblies sẽ không được dùng bởi phần mềm khác, bởi vì một ứng dụng chỉ có thể load private assemblies trong cùng folder với chương trình chính hoặc là trong một thư mục con của nó.

    Chúng ta không thể tin cậy rằng tất cả các phần mềm luôn được cài đặt trong thư mục của nó, nghĩa là sẽ không bao giờ có chuyện một gói phần mềm ghi đè, sửa chữa hoặc vô tình load một private assemblies dành riền cho một gói khác. Vậy làm sao để các Private assemblie chỉ được dùng bởi gói phần mềm mà nó mô tả? Cần có một cơ chế bảo vệ, sao cho khi một sản phẩm thương mại khác cài đè lên một phiên bản assembly mới (chưa kể đến các chương trình đựơc thiết kế để phá hoại), thì sẽ không có chuyện tranh chấp tên. Nếu có sự trùng tên trong các assembly, đều đó không quan trọng và các ứng dụng chỉ có thể nhìn thấy một bộ các assembly.

    Bởi vì một private assembly là một tự định nghĩa trọn vẹn, tiến trình xử lí cực kì đơn giản. Bạn đơn giản thay thế các file thích hợp vào thư mục thíhc hợp trong file hệ thống (Không cần phải đăng kí trong registry). Tiến trình này được gọi là zero impact (xcopy) installation.

    Shared Assemblies
    Shared assemblies được dành cho cácc thư viện công cộng có thể dùng cho bất kì ứng dụng nào. Bởi vì bất kì ứng dụng nào cũng có thể truy xuất một shared assembly, cần phải có các cơ chế để bảo vệ các rủi ro sau:

    Tranh chấp tên, khi một công ty tạo ra các shared assembly trùng tên với các shared assembly sẵn có của bạn. Về mặt lí thuyết mã của bạn có thể truy xuất vào cả hai assembly này song đây có thể là một vấn đề phức tạp.

    Lỗi của một assembly có thể bị ghi đè bởi một phiên bản khác của cùng same assembly - một phiên bản mới không tương thích với những gì sẵn có.

    Giải pháp cho những vấn đề trên là đặt các shared assembly trong một cây thư mục đặt biệt của hệ thống, có thể xem như là assembly cache toàn cục. Không giống như các private assembly, nó không đơn giản là copy assembly sang một thư mục thích hợp - nó cần được cài đặt rõ ràng vào cache. Tiến trình này có thể được thực thi bởi một số tiện ích của .NET, bao gồm luôn quá trình kiểm tra trên assembly, tương tự như cài đặt một thư mục trong assembly cache để đảm bảo tính toàn vẹn của assembly.

    Để tránh tranh chấp tên, shared assemblies đưa ra một được quản lí dựa trên một khóa mật mã chính. Tên này được gọi là strong name, được bảo đảm về tính độc nhất, và phải được trích dẫn bởi ứng dụng muốn tham chiếu đến một shared assembly.

    Vấn đề về tương thích với lỗi do ghi đè một assembly được đánh địa chỉ theo thông tín phiên bản trong assembly manifest, và cho phép cài đặt song song.

    Reflection
    Từ khi các assembly được lưu dưới dạng metadata, bao gồm chi tiết về tất cả các kiểu và thành viên của những kiểu này, thì nó có thể được truy xuất được các metadata programmatically. Để biết chi tiết hơn, xin hãy xem reflection - mã quả có thể xem xét các mã quản khác, hoặc xem xét chính nó, để nhận ra các thông tin về mã. Bạn có thể dùng các attribute, để có thể sử dụng phương thức trong lúc chạy điều này tốt hơn là trong lúc biên dịch.


    Tìm hiểu về Intermediate Language
    Như chúng ta đã biết, Intermediate Language hoạt động như là bản chất của .NET Framework. Là lập trình viên C#, chúng ta nên biết rằng mã C# sẽ luôn được dịch sang Intermediate Language trước khi nó được thực thi (thật vậy, trình biên dịch C# chỉ dịch sang mã có quản). Chúng ta hãy cùng khám phá các tính năng chính của IL, bất kì ngôn ngữ nào hướng .NET cũng sẽ hỗ trợ các đặc tính chính của IL.

    Sau đây là những đặc tính chính của Intermediate Language:

    Hướng đối tượng và dùng interfaces

    Sự tách biệt giữa kiểu giá trị và kiểu tham chiếu

    Định kiểu mạnh

    Quản lỗi thông qua các ngoại lệ

    Sự dụng các thuộc tính

    Bây giờ chúng ta sẽ cùng khám phá các đặc tính trên.

    Hỗ trợ hướng đối tượng và dùng giao diện
    Ngôn ngữ độc lập nền của .NET có một vài giới hạn riêng. Cụ thể trong lúc thực thi IL chắc chắn sẽ thực thi một cách thức lập trình riêng, và các ngôn ngữ khác phải chú ý đến việc tương thích với cách thức lập trình này. IL đã được Microsoft phát triển như là một ngôn ngữ hướng đối tượng cổ điển hỗ trợ đầy đủ thừa kế đơn giữa các lớp.

    Bên cạnh lập trình hướng đối tượng đơn, Intermediate Language còn nêu ra ý tưởng về interfaces (giao diện), cái đã được tích hợp trong Windows với giao diện COM. .NET nó không giống như giao diện COM; chúng không cần phải hỗ trợ bất kì một kiến trúc COM nào (ví dụ, chúng không xuất phát từ IUnknown, và chúng cũng không liên quan gì đến các GUID). Tuy nhiên chúng có thể dùng chung các giao diện COM.

    Hướng đối tượng và thực thi chéo ngôn ngữ
    Bây chúng ta sẽ tìm hiểu về hoạt động của .NET nghĩa là hoạt động biên dịch sang mã Intermediate Language, điều đó nói lên rằng bạn cần phải lập trình theo cách thức hướng đối tượng truyền thống. Không những thế chúng còn cung cấp cho chúng ta khả năng chuyển giao ngôn ngữ. Sau cùng, C++ và Java cả hai đều dùng những biến thể của hướng đối tượng, dù vậy chúng vẫn còn được quan tâm để có thể thực thi chéo. Chúng ta cần tìm hiểu một chút về thực thi chéo ngôn ngữ.

    Trước tiên chúng ta cần hiểu chính xác thực thi ngôn ngữ chéo là gì. Sau cùng, COM cho phép các thành phần được viết bởi các ngôn ngữ khác nhau có thể thực thi chéo. COM, là một nhị phân chuẩn, cho phép các thành phần có thể hiểu nhau và có thể gọi các phương thức cũng như thuộc tính lẫn nhau mà không cần quan tâm đến ngôn ngữ đã tạo ra chúng. Để làm được điều đó mỗi đối tượng phải có khả năng giao tiếp với thời gian chạy của COM, và phải có khả năng truy cập thông qua một giao diện. Các thành phần chỉ có thể giao tiếp với nhau trong thời gian chạy COM. Dù rằng các thành phần của COM có thể giao tiếp với nhau bất chấp ngôn ngữ đã tạo ra chúng, tuy nhiên COM không hỗ trợ hoạt động thừa kế, chính vì thế nó đã đánh mất các thuận lợi của lập trình hướng đối tượng.

    Một vấn đề xảy ra khi bẫy lỗi là các thành thành phần phải được bẫy lỗi trong ngôn ngữ đã tạo chúng, và bạn không thể bẫy lỗi từng bước trên các ngôn ngữ khác nhau. Vậy thực thi chéo ngôn ngữ được hiểu như là các lớp được tạo ra trong một ngôn ngữ có thể giao tiếp lẫn nhau với các lớp được tạo ra trong các ngôn ngữ khác. Cụ thể là:

    Một lớp được tạo ra trong một ngôn ngữ có thể thừa kế từ một lớp được viết trong một ngôn ngữ khác.

    Một lớp có thể chứa thể hiện của một lớp khác không quan tâm đến ngôn ngữ đã tạo ra hai lớp đó.

    Một đối tượng có thể gọi trực tiếp phương thức của một đối tượng khác được viết bởi một ngôn ngữ khác.

    Các đối tượng (hoặc các tham chiếu đến các đối tượng) có thể được truyền qua lại giữa các hàm

    Bạn có khả năng bẫy lỗi từng bước chương trình nguồn giữa các ngôn khác nhau

    Thật bất ngờ về những gì mà .NET và thực thi ngôn ngữ chéo đã làm được. Tiện ích bẫy lỗi từng được giới thiệu như là khả năng của Visual Studio .NET IDE hơn là CLR.

    Sự khác biệt giữa kiểu dữ liệu giá trị và kiểu dữ liệu tham chiếu
    Như bất kì ngôn ngữ lập trình nào, IL cung cấp một số tiền định nghĩa về các kiểu dữ liệu nguyên thủy. Một đặc trưng của Intermediate Language là phân biệt rạch ròi giữa kiểu dữ liệu giá trị và kiểu dữ liệu tham chiếu. Kiểu giá trị là các biến được dùng để lưu trực tiếp giá trị, trong khi đó kiểu tham chiếu là các biến chứa địa chỉ của dữ liệu.

    Trong C++, kiểu tham chiếu có thể coi như là một con trỏ, trong khi đó ở Visual Basic, kiểu tham chiếu có thể coi là các đối tượng, trong VB 6 luôn truy cập thông qua tham chiếu. Intermediate Language cũng chỉ rõ về cách thức lưu trữ dữ liệu: ví như một kiểu tham chiếu luôn được lưu trong vùng managed heap của bộ nhớ, trong khi đó kiểu giá trị lại được lưu trong stack (tuy nhiên nếu kiểu dữ liệu được khai báo là một trường của kiểu tham chiếu, chúng vẫn được lưu ở heap). Chúng ta sẽ bàn về stack và heap trong chương 3.

    Định kiểu mạnh
    Một điểm mạnh trong IL là định kiểu mạnh. Nghĩa là tất cả các biếu đều được đánh dấu rõ ràng và chuyên biệt về kiểu dữ liệu (IL không còn hỗ trợ kiễu Variant cho Visual Basic và ngôn ngữ kịch bản). Cụ thể là IL không cho phép các hoạt động trả về các kiểu dữ liệu không rõ ràng.

    Trong trường hợp là người phát triển VB có lẽ bạn sẽ rất lo lắng về kiểu, bởi vì khi dùng kiểu dữ liệu Variant VB tự động ép kiểu giúp bạn. Còn là người phát triển C++, có lẽ bạn sẽ dùng các casting pointer giữa các kiểu. Lập trình theo cách này có thể là một lập trình mạnh, tuy nhiên nó phá vỡ tính an toàn kiểu. Từ bây giờ, nó chỉ còn hỗ trợ trong những trường hợp đặc biệt trong một số ngôn ngữ có khả năng biên dịch sang mã có quản. Thật vậy, các con trỏ (không phải là tham chiếu) chỉ còn cho phép trong các khối mã đặc biệt trong C#, trong VB không có (mặc dù nó cho phép trong C++). Nếu dùng con trỏ trong mã nguồn nó sẽ không chuyển thành mã có quản và sẽ không được kiểm tra bởi CLR.

    Bạn cũng nên biết rằng trong một số ngôn ngữ biết .NET, chẳng hạn như VB.NET, vẫn cho phép mơ hồ kiểu, tuy nhiên chỉ để có thể làm được như thể làm được như vậy thì trình biên dịch đã xác định kiểu bảo vệ kiểu trước khi phát ra IL.

    Mặc dù, kiểu bảo vệ lúc đầu có thể sinh ra nhiều cản trở trong lập trình nhưng trong nhiều trường hợp kiểu bảo vệ sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn trong các dịch vụ được cung cấp bởi .NET. Chẳng hạn các dịch vụ sau:

    Language Interoperability

    Garbage Collection

    Security

    Application Domains

    Hãy tìm hiểu xem tại sao kiểu dữ liệu mạnh lại là một trong những đặc tính quan trọng của .NET.

    Tầm quan trọng của Strong Data Typing đối với Language Interoperability
    Một khía cạnh quan trong của strong data typing là nếu một lớp xuất thân hoặc chứa một lớp khác thì nó cần phải biết tất cả các kiểu dùng trong các lớp đó. Thật vậy, nó đã từng các chướng ngại lớn trong việc thực thi ngôn ngữ chéo ở các hệ thống không hỗ trợ trước đấy. Thông tin này không có sẵn trong các file thi hành và DLL chuẩn.

    Giả sử rằng một phương thức trong VB.NET được định nghĩa là sẽ trả về một Integer, một trong những kiểu dữ liệu chuẩn của VB.NET. C# không có kiểu dữ liệu có tên như vậy. Chúng ta chỉ có thể dùng phương thức này để trả về một kiểu của C# nết trình biên dịch biết cách ánh xạ kiểu VB.NET's Integer đến một trong những kiểu được định nghĩa trong C#. Vậy .NET đã làm việc đó như thế nào?

    Common Type System (CTS)
    Vấn đề về kiểu dữ liệu này được .NET giải quyết bằng cách dùng Common Type System (CTS). CTS định nghĩa các kiểu dữ liệu tiền định và có sẵn trong IL, vì thế tất các các ngôn ngữ hướng .NET framework sẽ sinh ra mã cuối trên cơ sở các kiểu dữ liệu này.

    Trong ví dụ trên, VB.NET's Integer thực tế là một 32-bit signed integer, được ánh xạ từ kiểu Int32 trong IL. Nó phải được biên dịch thành mã IL. Bởi vì trình biên dịch C# cũng biết kiểu dữ liệu này nên không có vấn đề gì cả. Ở cấp mã nguồn, C# gọi Int32 là int, vì vậy khi biên dịch hàm VB.NET đơn giản trả về một kiểu int.

    CTS không chỉ đơn thuần là các kiểu dữ liệu đơn giản, doesn't merely specify primitive data types, mà nó còn cho phép chúng ta tự định nghĩa kiểu của riêng mình.

    Các kiểu được trình bày trong bảng dưới đây:

    Kiểu
    Giải thích

    Type
    Kiểu cơ bản dùng để mô tả các kiểu khác

    Value Type
    Kiểu cơ bản dùng để mô tả các kiểu giá trị.

    Reference Types
    Kiểu cơ bản dùng để môt tả các kiểu tham trị.

    Built-in Value Types
    Bao gồm các kiểu giá trị nguyên thủy chuẩn, như các kiểu số, kiểu luận lí, kiểu kí tự.

    Enumerations
    Bộ các giá trị liệt kêSets of enumerated values.

    User-defined Value Types
    Kiểu được định nghĩa trong mã nguồn như là một kiểu giá trị. Trong C# nó có là struct.

    Interface Types
    Các giao diện.

    Pointer Types
    Các con trỏ.

    Self-describing Types
    Kiểu dữ liệu có quản.

    Arrays
    Các kiểu chứa mảng các đối tượng.

    Class Types
    Các kiểu tự mô tả nhưng không phải là mảng.

    Delegates
    Kiểu được thiết kế để tham chiếu đến các phương thức.

    User-defined Reference Types
    Kiểu được định nghĩa trong mã nguồn và được lưu như là kiểu tham chiếu. Trong C#, nó có nghĩa là một lớp.

    Boxed Value Types
    Một kiểu giá trị được bọc thành một kiểu tham chiếu vì thế nó có thể được lưu trong heap.


    Chúng ta không thể liệt kê tât cả các kiểu giá trị ở đây, bởi vì chúng sẽ được bàn kĩ trong chương 2. Trong C#, mỗi kiểu có sẵn được nhận dạng bởi trình biên dịch ánh xạ đến một kiểu IL cài sẵn. Điều này cũng đúng cho cả VB.NET.

    Common Language Specification (CLS)
    Common Language Specification hoạt động cùng với Common Type System để bảo đảm thực thi ngôn ngữ chéo. CLS là một bộ con chuẩn mà tất cả các trình biên dịch hướng .NET đều phải hỗ trợ. Đều đó có nghĩa là các trình biên dịch đều sẽ hỗ trợ tất cả những gì được định nghĩa trong CLS.

    Chú ý: Các bạn có thể viết các mã non-CLS, tuy nhiên những mã này không đảm bảo việc thực thi ngôn ngữ chéo.

    IL là một ngôn ngữ phân biệt loại kí tự. Những nhà phát triển khi làm việc với các ngôn ngữ phân biệt loại kí tự có khả năng tạo nên sự mềm dẻo khi đặt tên biến. VB.NET, lại không phải là ngôn ngữ phân biệt loại kí tự. CLS xử lí việc này bằng các ra hiệu cho CLS rằng mã không cho phép hai tên chỉ khác nhau về mặt loại kí tự. Bởi vậy, mã VB.NET có thể hoạt động trong CLS.

    CLS hoạt động theo hai định hướng. Trước tiên nó là một trình biên dịch riêng không hỗ trợ đây đủ các đặc trưng của .NET điều này khuyến khích sự phát triển của các ngôn biết .NET khác. Thứ hai, nó bảo đảm rằng nếu bạn hạn chế các lớp của bạn trong những đặc tính của CLS, thì nó bảo đảm rằng các mã dùng trong những ngôn ngữ khác có thể dùng các lớp này.

    Nét đẹp của ý tưởng này là việc giới hạn trong những đặc tính của CLS chỉ nên áp dụng cho những thành phần public và protected của các lớp và chỉ dùng cho các lớp public. Trong các thành phần thực thi của các lớp của bạn, bạn có thể viết các mã non-CLS nếu muốn, bởi các ngôn ngữ khác không bao giờ có thể truy cập vào những phần này.

    Chúng ta không đi vào chi tiết của CLS ở đây. Về mặt tổng quát CLS không ảnh hưởng nhiều đến mã C# của bạn vì nó không có nhiều đặc tính khác CLS.

    Garbage Collection
    Garbage collector là một thành phần quản lí bộ nhớ của .NET, nó là một đáp án cho việc thu hồi bộ nhớ của các chương trình thực thi. Từ trước đến giờ có hai công nghệ được sử dụng cho việc huỷ bộ nhớ trong Windows, những tiến trình này được yêu cầu từ hệ thống:

    Ứng dụng tự làm điều này một cách thủ công.

    Tạo một bộ đếm tham chiếu đến đối tượng.

    Việc mã ứng dụng chịu trách nhiệm thu hồi vùng nhớ là một cộng nghệ dùng ở mức thấp, hoặc những ngôn ngữ thực thi cấp cao như C++. Nó mang tính hiệu quả cao, nó có thuận lợi là tài nguyên sẽ được ********** ngay khi không còn cần thiết. Một bất lợi lớn là nó thường xuyên sinh lỗi. Mã nguồn luôn phải chỉ rõ cho hệ thống biết khi nó không cần dùng bộ nhớ đó nữa . Dễ dàng nhìn ra rằng kết quả có thể dẫn đến rò rỉ bộ nhớ.

    Mặc dù các môi trường phát triển hiện đại có cung cấp một số công cụ giúp đỡ trong việc phát hiện sự rò rỉ bộ nhớ, nhưng rất khó theo vết, bởi vì nó không có hiệu lực cho đến khi có một khối lượng lớn bộ nhớ bị rò rỉ: Windows buộc phải ngưng các tiến trình xử lí. Tại thời điểm này máy tính chậm đi thấy rõ một sự trả giá cho các yêu cầu bộ nhớ.

    Việc duy trì một bộ đếm các tham chiếu là một ân huệ trong COM. Ý tưởng này cho rằng mỗi thành phần COM chứa một bộ đếm xem có bao nhiêu ứng dụng đang chứa tham chiếu đến nó. Khi bộ đếm này xuống đến zero, Thành phần có thể tự hủy nó và ********** vùng nhớ cũng như các tài nguyên tương ứng. Vấn đề ở đây là nó vẫn lệ thuộc vào sự thông báo của các ứng dụng khi chúng không còn dùng đến các thành phần này nữa. Trong một vài trường hợp, nó có khả năng tạo ra một vấn đề nghiêm trọng hơn là sự kiểu rò rỉ C++ thông thường, bởi vì đối tượng COM có thể nằm trong một tiến trình của riêng nó, điều này có nghĩa là nó sẽ không bao giờ được hủy bởi hệ thống (chí ít trong rò rỉ kiểu C++, hệ thống có thể giành lại toàn bộ vùng nhớ khi tiến trình kết thúc).

    Thời gian chạy .NET hoàn toàn phụ thuộc vào garbage collector instead. Đây là một chương trình hỗ trợ việc thu dọn bộ nhớ. Trong ý tưởng này tất cả các yêu cầu bộ nhớ đều được cấp phát trên heap (điều này đúng cho tất cả các ngôn ngữ, trong .NET, CLR chứa nó trong vùng heap có quản cho tất cả các ứng dụng .NET sử dụng). Thỉnh thoảng .NET sẽ kiểm tra xem vùng heap có quản có trở nên đầy chưa để nó tiến hành thu dọn, và nó gọi đây là tiến trình thu gôm rác. Trình thu dọn rác sẽ kiểm tra các tham chiếu từ mã của bạn, ví dụ các tham chiếu từ mã của bạn đến các đối tượng được lưu trên heap được nhận dạng, nó có nghĩa là đối tượng đó vẫn còn tham chiếu, các đối tượng không còn tham chiếu nữa sẽ bị huỷ.

    Trình thu gom rác hoạt động trong .NET bởi vì Intermediate Language được thiết kế để làm điều đó. Phải tuân thủ các nguyên tắc sau, thứ nhất bạn chỉ có thể tham chiếu đến một đối tượng có sẵn bằng cách sao chép cac tham chiếu có sẵn, thứ hai Intermediate Language bảo vệ kiểu, điều này có nghĩa là các tham chiếu đến các đối tượng có sẵn luôn chứa đựng thông tín nhận dạng chính xác của đối tượng đó.

    C++ Có thể không sử dụng trình thu gom một cách máy móc, bởi vì C++ cho phép các con trỏ tự do ép kiểu.

    Một điều đặc biệt quản trọng là tính không định trước của trình thu gom rác. Hay nói cách khác, bạn không thể bảo đảm được khi nào trình thu gôm rác sẽ được gọi; nó sẽ được gọi khi CLR cảm thấy cần (nếu bạn không thực hiện lời gọi tường minh).

    Bảo mật
    .NET thật sự xuất sắc trong việc bổ sung cơ chế bảo mật của Windows bởi vì nó hỗ trợ code-based security trong khi đó Windows chỉ thật sự hỗ trợ Role-based security.

    Role-based security là cơ sở để xác định tài khoản của các tiến trình đang thực thi, hay nói cách khác ai sở hữu các tiến trình đang thực thi. Code-based security là một cơ chế khác để xác định xem những mã nào và có bao nhiêu mã là đáng tin. Cảm ơn sự bảo vệ kiểu mạnh của IL, vì nhờ nó mà CLR có thể kiểm tra mã trước khi chạy trong một chế độ bảo vệ được đưa ra.NET cũng hỗ trợ một cơ chế những mã nào được phép phơi tra trong một cơ chế bảo mật nào đó.

    Một điều quan trọng là code-based security có thể làm giảm nguy cơ liên quan đến việc chạy các đoạn mã có xuất xứ không rõ ràng (chẳng hạn như mã mà bạn downloaded từ Internet). Một ví dụ, nếu mã được chạy dưới quyền administrator, nó có thể sử dụng code-based security để khai báo rằng mã không còn cho phép thực thi trong những kiểu mà quyền administrator hỗ trợ như: không thể đọc hoặc viết lên các biến môi trường, đọc hoặc viết lên registry, không truy cập vào các đặc trưng trong .NET.

    Security sẽ được bàn kĩ hơn trong chương 23.

    Application Domains
    Application domains là một cách tân quan trọng trong .NET và nó được thiết kế để có thể dễ dàng xử li các vấn đề khi chạy các ứng dụng cần sự biệt lập với các ứng dụng khác nhưng vẫn có thể thông tin với các ứng dụng khác. Một ví dụ cổ điển đó lá một ứng dụng web server application, nó phải phản hồi lại với một số lượng các yêu cấu từ các trình duyệt. Chắc chắn rằng sẽ tồn tại cùng lúc nhiều thành phần có khả năng phản hồi để phục vụ cho các yêu cầu đó.

    Trước thời .NET, sự lựa chọn giữa cho phép các thể hiện đó có thể dùng trong một tiến trình, cái mà sẽ mang lại sự rủi ro có thể làm giảm độ an toàn của trang web, hay là cho phép các thể hiện đó chạy trên các tiến trình biệt lập, cái mà sẽ mang lại sự gia tăng sự thực thi.

    Giờ đây, đó là sự biệt lập mã thông qua các tiến trình. Khi bạn kích khởi một ứng dụng mới, nó sẽ chạy trong ngữ cảnh của tiếnt trình. Các tiến trình Windows độc lập nhau thông qua vùng địa chỉ. Trong ý tưởng này mỗi tiến trình sẽ có sẵn 4 gigabytes bộ nhớ ảo để chữa dữ liệu và mã thực thi (4GB là dành cho hệ thống 32-bit; hệ thống 64-bit có thể nhiều hơn). Windows gián tiếp thực hiện cơ chê mở rộng để ánh xạ bộ nhớ ảo này với bộ nhớ vật lí thật hay đĩa. Mỗi tiến trình sẽ có sự ánh xạ khác nhau, sao cho các vùng nhớ vật lí thật sự không trùng lấp nhau. Nó được minh họa bởi sơ đồ sau:


    Một cách tổng quat, bất kì tiến trình nào cũng chỉ có thể truy cập đến bộ nhớ thông qua mộ địa chỉ ảo cụ thể - các tiến trình không thể truy xuất trực tiếp bộ nhớ vật lí. Như vậy nó đơn giản là không cho phép một tiến trình có thể truy xuất đến vùng nhớ được cấp cho một tiến trình khác. Nó cung cấp một cơ chế bảo đảm rằng những ứng xử tồi của mã không thể làm hỏng bất kì thứ gì bên ngoài vùng địa chỉ của nó. (chú ý rằng trong Windows 9x, những cơ chế bảo vệ này không đươc thấu đáo như trong NT/2000/XP, vì thế về mặt lí thuyết các ứng dụng có khả năng phá hủy Windows do viết lên vùng nhớ không thích hợp).

    Các tiến trình không chỉ phục vụ như là cách để tạo nên sự tách biệt giữa các thể hiện khác nhau. Trong hệ thống Windows NT/2000, nó còn làm đơn vị để gán các giấy phép và đặc quyền bảo mật. Mỗi tiến trình có một kí hiệu bảo mật riêng, để báo cho Windows biết chính xác các thực thi mà tiến trình cho phép.

    Cả hai phương pháp này đều có khả năng bảo mật tốt nhưng lại sinh ra một bất lợi lớn đó là thực thi. Thông thường các tiến trình sẽ hoạt động chung với nhau, bởi vậy cần phải có sự truyền thông giữa chúng. Ví dụ như đâu đó một tiến trình gọi một thành phần COM khả thi, và bởi vì được yêu cầu chạy trong tiến trình của chúng. Giống như cách mà COM vẫn làm. Khi đó các tiến trình không thể dùng chung bộ nhớ, một tiến trình phức tạp được sử dụng để sao chép dữ liệu giữa các tiến trình. Nó sẽ gây trở ngại lớin đến vấn đề thực thi. Nếu bạn muốn các thành phần có thể làm việc với nhau mà không muốn ảnh hưởng đến vấn đề thực thi, cách duy nhất là sử dụng DLL-based components và mọi thứ sẽ hoạt động trong cùng một vùng đã chỉ (đây là một việc mạo hiểm vì các thành phần ứng xử tồi sẽ làm hỏng tất cả mọi thứ).

    Application domains được thiết kế như là một thành phần riêng biệt không gây ảnh hưởng đến vấn đề thực thi trong lúc các tiến trình trao đổi dữ liệu. Ý tưởng này cho rằng một tiến trình được chia thành một số các application domains. Mỗi application domain sẽ trả lời cho một ứng dụng đơn, và các loạt thực thi sẽ hoạt động như là một application domain độc lập:


    Nếu các thực thi cúng sử dụng chung một vùng nhớ, rõ ràng chúng có thể dùng chung dữ liệu, bởi vì trên lí thuyết chúng có thể truy xuất trục tiếp dữ liệu của nhau. Tuy nhiên đó chỉ là nguyên tắc, CLR sẽ bảo đảm rằng điều này sẽ không xảy ra trong thực tế bằng cách kiểm tra kỹ lưỡng mã trong mỗi ứng dụng, để chắc rằng chúng không lạc ra khỏi vùng dữ liệu của chúng. Trước tiên hầu như các trò bịp quá đáng sẽ bị loại bỏ, sau đó ứng dụng có thể hoạt động và không phải kích hoạt nó.

    Thật sự, nó hoàn toàn có thể làm được điều này vì sự định kiểu mạnh của IL. Trong nhiều trường hợp, nếu mã thật sự dùng kiểu không quản chẳng hạn như các con trỏ, kiểu dữ liệu đang dùng sẽ bảo đảm vùng nhớ sẽ được truy cập hợp lí. ví dụ, kiểu mảng .NET sẽ tiến hành kiểm tra và bảo đảm rằng các thao tác trên mảng đều nằm trong phạm vi cho phép. Nếu một thực thi cần trao đổi thông tin với các thực thi chạy trong các application domain khác chúng phải gọi dịch vụ điều khiển từ xa của .NET.

    Mã được kiểm tra xem có truy cập dữ liệu ngoài application domain không được gọi là memory type-safe. Như vậy mã này có thể hoạt động cùng với mã được bảo vệ ở các application domains khác nhau trong cùng một tiến trình.

    Bẫy lỗi thông qua các ngoại lệ
    .NET được thiết kế để đơn giản hoá quá trình bẫy lỗi thông qua các ngoại lệ. Những nhà phát triển C++ nên biết rằng, bởi vì IL là hệ thống định kiểu mạnh, nó không thực thi các mối kết hợp bất lợi thông qua các ngoại lệ trong IL, đây là cách được đưa ra trong C++. Tất nhiên khối finally cũng được hỗ trợ trong .NET và C#.

    Chúng ta sẽ bàn kĩ về ngoại lệ trong chương 4. Sơ qua một chút, ý tưởng ở đây là một vùng mã được thiết kế như là các thủ tục quản ngoại lệ, mỗi đoạn mã có thể giải quyết một điêu kiện lỗi riêng (ví dụ, một file không được tìm thấy, hoặc không được phép thực thi một số lệnh). Những điều kiện này có thể được định nghĩa kĩ hoặc sơ qua tuỳ bạn. Cấu trúc ngoại lệ bảo đảm rằng khi một điều kiện sinh lỗi xảy ra, ngay lập tức luồn thi hành sẽ nhảy đến thủ tục quản ngoại lệ.

    Cơ cấu quản ngoại lệ tạo điều kiện thuận lợi để truyền cho một đối tượng thông tin chính xác về các điều kiện sinh ngoại lệ và một thủ tục quản ngoại lệ. Đối tượng này có thể bao gồm một thông điệp thích hợp cho người dùng và chi tiết về nơi phát sinh ngoại lệ.

    Hầu hết các cơ cấu quản ngoại lệ, bao gồm cả điều khiển của chương trình sẽ treo khi một ngoại lệ được phát sinh, được quản bởi ngôn ngữ bậc cao (C#, VB.NET, C++), và không một lệnh IL nào hỗ trợ việc đó. Ví dụ C#, quản sự kiện thông qua các khối mã try{}, catch{}, finally{}, chúng ta sẽ bàn sau trong chương 4.

    Những gì mà .NET làm là cung cấp cơ sở cho phép các trình biên dịch hướng .NET hỗ trợ việc quản ngoại lệ. Cụ thể nó cung cấp một bộ các lớp .NET có thể miêu tả các ngoại lệ, và thực thi ngôn ngữ chéo cho phép truyền các đối tượng ngoại lệ cho các mã quản ngoại lệ, bất chấp mã quản ngoại lệ được viết trong ngôn ngữ nào. Sự độc lập ngôn ngữ này không được hỗ trợ trong việc quản ngoại lệ của C++ lẫn Jave, mặc dù nó vẫn tồn tại giới hạn trong cơ cấu COM cho việc quản lỗi: bao gồm việc trả về mã lỗi trong các phương thức và truyền các đối tượng lỗi. Thật vậy các ngoại lệ đó được quản một cách nhất quán trong các ngôn ngữ khác nhau nó đóng vai trò quyết định trong phát triển đa ngôn ngữ.

    Dùng các thuộc tính
    Attributes là một đặc trưng đã thân thuộc với những nhà phát triển C++ để viết các thành phần COM (thông qua việc sử dụng Microsoft's COM Interface Definition Language (IDL)) dù vậy nó không thân thiện với những nhà phát triển Visual Basic hay Java. Attribute cung cấp thông tin mở rộng liên quan đến các mục trong chương trình có thể được sử dụng bởi trình biên dịch.

    Attributes được hỗ trợ trong .NET - và vì thế giờ đây nó được hỗ trợ trong C++, C#, và VB.NET. Một cái mới là các attribute trong .NET là một cơ chế cho phép bạn có thể định nghĩa các attribute của riêng bạn trong mã nguồn. Các attribute tự định nghĩa này có thể thay thế cho các siêu dữ liệu của các phương thức và kiểu dữ liệu tương ứng. .Do tính độc lập ngôn ngữ của .NET mà các attribute có thể được định nghĩa trong một ngôn ngữ và có thể đọc bằng mã ở các ngôn ngữ khác.
    Tham Gia Website minigame nào! Game gì cũng có.

    Website: Hidden Content
    Forum: Hidden Content

  4. Có 6 thành viên cảm ơn tymaster cho bài viết này:
    carleton2 (14-09-2008), crazy_hippi_titi (26-08-2008), dst (03-07-2008), quangnghiabk (29-05-2009), thansauth (18-03-2012), __DJ__ (09-03-2009)

  5. #3
    tymaster's Avatar
    tymaster vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jan 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    79/24 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Tiếp Theo:
    Các lớp .NET Framework
    Có lẽ một trong những lợi ích lớn nhất của viết mã có quản, ít nhất là đối với một nhà phát triển, đó là bạn có thể sử dụng thư viện lớp cơ sở của .NET.

    Thư viện lớp cơ sở của .NET là một tập hợp lớn các lớp mã có quản được viết bởi Microsoft, những lớp này cho phép bạn thao tác rất nhiều các tác vụ sẵn có trong Windows. Bạn có thể tạo các lớp của mình từ các lớp có sẵn trong thư viện lớp cơ sở của .NET dựa trên cơ chế thừa kế đơn.

    Thư viện lớp cơ sở của .NET rất trực quan và rất dễ sử dụng. Ví dụ, để tạo một tiến trình mới, bạn đơn giản gọi phương thức Start() của lớp Thread. Để disable một TextBox, bạn đặt thuộc tính Enabled của đối tượng TextBox là false. Thư viện này được thiết kế để dễ xài như là Visual Basic và Java. Tất nhiên là nó dễ sử dụng hơn các lớp của C++: các vỏ bọc ngoài các hàm API thô như GetDIBits(), RegisterWndClassEx(), và IsEqualIID().

    Mặt khác, những nhà phát triển C++ luôn dễ dàng truy cập đến các API, ngược lại những nhà phát triển Visual Basic và Java đã bị giới hạn trong những thao tác hệ thống cơ bản mà ngôn ngữ đã từng ngôn ngữ đã cung cấp sẵn. Cái mới của thư viện lớp cơ sở .NET là kết hợp tính đơn giản của các thư viện Visual Basic và Java với hầu hết các đặc tính trong các hàm Windows API. Có nhiều đặc tính của Windows không sẵn có trong các lớp của thư viện .NET, trong trường hợp đó bạn cần phải gọi các hàm API, những đặc tính này thường là các đặc tính lạ, ít sử dụng. Những đặc tính thông dụng đều đã được hỗ trợ đầy đủ trong thư viện lớp của .NET. Và nếu bạn muốn gọi một hàm API, .NET gọi là "platform-invoke", cơ chế này luôn bảo đảm tính đúng đắn của kiểu dữ liệu, vì vậy thao tác này không khó hơn việc gọi trực tiếp từ mã C++, nó được hỗ trợ cho cả C#, C++, và VB.NET.

    WinCV, một tiện ích Windows-based, bạn có thể dùng để tham khảo các lớp, cấu trúc, giao diện, kiểu liệt kê trong thư viện .NET base class. Chúng ta sẽ tìm hiểu WinCV trong chương 6.

    Dù rằng chủ đề của chương 5 bàn về các lớp cơ sở, nhưng thực tế, chúng tôi chỉ nói về các cú pháp của ngôn ngữ C#, chủ yếu quyển sách này chỉ cho các bạn về cách dùng các lớp khác nhau trong thư viện .NET base class. Một cách tổng quát .NET base classes bao gồm các vấn đề:

    Các đặc tính lõi cung cấp bởi IL (chủ yếu là về các kiểu dữ liệu trong CTS, Chương 5)

    Hỗ trợ Windows GUI và controls (Chương 7)

    Web Forms (ASP.NET, 16)

    Data Access (ADO.NET, 10)

    Directory Access (Chương 13)

    File system và registry access (Chương 12)

    Networking và web browsing (Chương 20)

    .NET attributes và reflection (Chương 5)

    Truy xuất vào hệ điều hành Windows (các biến môi trường vv..., Chương 23)

    COM interoperability (18)

    Một cách tình cờ, hầu hết các thư viện lớp cơ sở của .NET được viết bằng C#!

    Các Namespace
    Namespace là cách mà .NET dùng để chống lại sự xung đột tên giữa các lớp. Chẳng hạn như trường hợp bạn có một lớp mô tả khách hàng gọi là lớp Customer, và sau đó một người khác cũng có một lớp giống như vậy.

    Một namespace không chỉ là một nhóm các kiểu dữ liệu, mà nó làm cho tên của tất cả các kiểu dữ liệu trong cùng một không gian tên sẽ có tiếp đầu ngữ là tên của namespace đó. Nó cũng cho phép một không gian tên nằm trong một không gian tên khác. Ví dụ, hầu hết các hỗ trợ chung của các thư viện lớp cơ sở .NET đều nằm trong một không gian tên gọi là System. Lớp cơ sở Array nằm trong không gian tên này có tên đầy đủ là System.Array.

    .NET yêu cầu tất cả các kiểu đều phải được định nghĩa trong một không gian tên, ví dụ bạn có thể đặt lớp Customer của bạn trong một không gian tên gọi là YourCompanyName. Lớp này sẽ có tên đầy đủ là YourCompanyName.Customer.

    Nều một namespace không được khai báo rõ ràng, các kiểu sẽ được đặt vào một namespace toàn cục không tên.

    Microsoft khuyên rằng các hỗ trợ của bạn nên đặt vào một namespace ít nhất là 2 cấp, cấp một là tên của công ty của bạn, cấp hai là tên của công nghệ hoặc là phần mềm của gói sản phẩm đó, chẳng hạn như YourCompanyName.SalesServices.Customer. Làm như vậy trong hầu hết các trường hợp đảm bảo rằng, các lớp trong ứng dụng của bạn không xung đột tên với các lớp của các tổ chức khác.
    Tham Gia Website minigame nào! Game gì cũng có.

    Website: Hidden Content
    Forum: Hidden Content

  6. Có 5 thành viên cảm ơn tymaster cho bài viết này:
    carleton2 (14-09-2008), crazy_hippi_titi (26-08-2008), dst (03-07-2008), thansauth (18-03-2012), __DJ__ (09-03-2009)

  7. #4
    tymaster's Avatar
    tymaster vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jan 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    79/24 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Tạo các ứng dụng .NET bằng C#
    C# có thể dùng để tạo các ứng dụng console: các ứng dụng thuần văn bản chạy trên DOS window. Hầu như bạn chỉ tạo các ứng dụng console khi cần kiểm tra các thư viện lớp, hoặc cho các tiến trình daemon Unix/Linux. Tât nhiên, bạn cũng có thể dùng C# để tạo các ứng dụng dùng cho các công nghệ tương thích .NET. Trong phần này, chúng ta xem qua về các kiểu ứng dụng khác nhau có thể tạo ra bằng C#.

    Tạo các ứng dụng ASP.NET
    ASP là một công nghệ của Microsoft dùng để tạo các trang web có nội dung động. Một trang ASP thực chất là một file HTML có nhúng các khối server-side VBScript hay JavaScript. Khi một trình duyệt khách yêu cầu một trang ASP page, web server sẽ sinh ra mã HTML, xử lí các server-side script khi chúng đến. Thường thì các script sẽ truy cập vào một cơ sở dữ liệu để lấy dữ liệu, và biểu diễn trên trang HTML. ASP là cách đơn giản nhất để tạo các ứng dụng browser-based.

    ASP tất nhiên cũng có một vài hạn chế. Trước tiên, các trang ASP thỉnh thoảng trở nên rất chậm bởi vì mã server-side được thông dịch thay vì đựơc biên dịch. Thứ hai, các file ASP khó bảo trì bởi vì chúng không có cấu trúc; mã server-side ASP và HTML được trộn lẫn với nhau. Thứ ba, ASP đôi khi kho phát triển bởi nó không quan tâm đến bẫy lỗi và kiểm tra kiểu. Cụ thể, nếu bạn dùng VBScript và muốn bẫy lỗi trên các trang của bạn, bạn phải dung câu lệnh On Error Resume Next, và cho phép tất cả các thành phần gọi thông qua một Err.Number để chắc rằng tất cả đều tốt.

    ASP.NET là một phiên bản mới của ASP đã cải tiến rất nhiều các thiếu xót của nó. Nó không chỉ thay thế ASP; hơn thế, các trang ASP.NET có thể sống chung với các ứng dụng ASP trên cùng một máy chủ. Tất nhiên bạn có thể lập trình ASP.NET với C#!

    Mặt dù các chương (14-16) sẽ bàn kĩ về ASP.NET, nhưng chúng ta cũng nói qua một vài đặc tính quan trọng của nó.

    Các đặc tính của ASP.NET
    Trước tiên, và có lẽ là quan trọng nhất, các trang ASP.NET là các trang có cấu trúc. Có nghĩa là mỗi trang là thực tế là một lớp được thừa kế từ lớp .NET System.Web.UI.Page, và có thể ghi đè một tập các phương thức sẽ dùng trong thời gian sống của trang web (bạn hãy tưởng tượng rằng nhữn sự kiện này như là anh em bà con với các sự kiện OnApplication_Start và OnSession_Start trong file global.asa của ASP cũ.) Bởi vì bạn có thể chuyển các thao tác của một trang thành các sự kiện sáng nghĩa hơn, chính vì thể mà các tramg ASP.NET dễ hiểu hơn.

    Một điểm mạnh khác là các trang ASP.NET có thể được tạo trong VS.NET, cùng chung môi trường với các thành phần luận lí và dữ liệu sẽ được dùng trong các trang web này. Một nhóm đề án VS.NET, hoặc solution, chứa tất cả các file liên quan đển một ứng dụng. Hơn thế nữa bạn có thể bẫy lỗi các trang ASP của bạn ngay trong trình thiết kế; trước đây, thật là khó khăn để có thể cấu hình InterDev và các đề án web server để thực hiện bẫy lỗi.

    Rõ ràng, đặc tính ASP.NET's code-behind giúp các bạn có thể dễ dàng cấu trúc một trang web. ASP.NET cho phép bạn tách biệt các chức năng server-side của trang thành một lớp, biên dịch lớp đó thành một DLL, và đặt DLL đó vào một thư mục bên dưới phần HTML. Một code-behind chi phối đỉnh của một trang web tương đương với file DLL của nó. Khi một trình duyệt yêu cầu trang, web server phát ra các sự kiện trong lớp của page's code-behind DLL.

    Cuối cùng không kém phần quan trọng, ASP.NET thật sự đáng chú ý với khả năng tăng cường sự thực thi. Ngược lại với các trang ASP được thông dịch cho mỗi yêu cầu, web server lưu giữ lại các trang ASP.NET sau quá trình biên dịch. Nghĩa là các yêu cầu sau của một trang ASP.NET sẽ thực thi nhanh hơn trang đầu tiên.

    ASP.NET dễ tạo các trang hơn bởi vì nó được chiếu bởi trình duyệt, bạnc có thể sử dụng một môi trường mạng intranet. Theo kinh nghiệm truyền thống thì một ứng dụng form-based thường là tốt hơn một user interface, nhưng cũng khó bảo trì hơn vì nó chạy trên nhiều máy khác nhau.

    Với sự ra đời của Internet Explorer 5 và sự thực thi mơ hồ của Navigator 6, tất nhiên các đặc tính của ứng dụng form-based bị che mờ. IE 5's hỗ trợ nhất quán và mạnh mẽconsistent cho DHTML cho phép các nhà lập trình tạo các ứng dụng web-based đẹp là lớn hơn. Tất nhiên, các ứng dụng này bắt buộc phải theo chuẩn của IE và không được hỗ trợ bởi Navigator. Trong nhiều lĩnh vực công nghiệp, chuẩn này đã trở nên phổ biến.

    Web Forms
    Để dễ dàng cho việc tạo các trang có cấu truc, Visual Studio .NET cung cấp Web Forms. Chúng cho phép bạn tạo các trang ASP.NET sinh động như cách mà VB 6 hay C++ Builder windows đã làm; nó cách khác, bằng cách kéo các controls từ toolbox vào form, sau đó sắp xếp cho đẹp, điền mã quản lí sự kiện thích hợp vào control đó. Khi bạn dung C# để tạo các Web Form, bạn đang tạo một lớp C# được thừa kế từ lớp Page base, và một trang ASP được chỉ định như là code-behind. Tất nhiên, không bắt buộc phải dùng C# để tạo một Web Form; bạn có thể dùng VB.NET hoặc một ngôn ngữ biết .NET khác.

    In the past, the difficulty of web development has discouraged some teams from attempting it. To succeed in web development, you had to know so many different technologies, such as VBScript, ASP, DHTML, JavaScript, and so on. By applying the Form concepts to web pages, Web Forms promise to make web development easier. Only time will tell, however, how successful Web Forms and Web Controls (which we'll look at next) will be at insulating the developer from the complexities of web design.

    Web Controls
    Các control thường được cư trú trên một Web Form không phải là các ActiveX control. Hơn nữa, chúng là XML tags trong ASP namespace và browser có thể chuyển sang HTML và client-side script khi một trang được yêu cầu. Đặc biệt hơn, web server có thể các điều khiển server-side control theo nhiều cách khác nhau, sinh ra sự biến đổi phù hợp với các yêu cầu của các web browser riêng biệt. Điều này có nghĩa là sẽ dễ dàng viết các giao diện người dùng tinh vi cho các trang web, đừng bận tâm đến vấn đề tương thích trình duyệt web– bởi vì Web Forms sẽ làm điều đó cho bạn.

    Bạnc có thể dùng C# hay VB.NET để mở rộng hộp công cụ Web Form. Việc tạo một server-side control mới đơn giản là thực thi lớp .NET System.Web.UI.WebControls.WebControl.

    Web Services
    Ngày nay, các trang HTML là nguyên nhân của hầu hết các xung đột trên World Wide Web. Với XML, các máy vi tính có một định dạng device-independent để dùng cho việc truyền thông với các máy khác trên mạng Web. Trong tương lại, các máy tính có thể sẽ dùng Web và XML để trao đổi thông tin hơn là dùng các line chuyên dụng và theo những định dạng riêng như EDI (Electronic Data Interchange). Các Web Service được thiết kế cho một web hướng dịch vụ, trong đó các máy tính ở xa cung cấp cho nhau các thông tin động có thể phân tích và tái định dạng, trước khi trao lại cho người dùng. Một Web Service là cách đơn giản nhất để một máy tính có thể cung cấp thông tin cho các máy tính khác trên Web dưới định dạng XML.

    Về mặt kĩ thuật, một Web Service trong .NET là một trang ASP.NET theo định dạng XML thay vì theo định dạng HTML để yêu cầu các client. Các trang này có một code-behind DLL chứa một lớp xuất phát từ lớp WebService. VS.NET IDE cung cấp một cơ chế để tiện cho việc phát triển Web Service.

    Có hai lí do chính để một tổ chức chọn Web Services. Lí do thứ nhất là bởi vì chúng đáng tin cậy trên HTTP, Web Services có thể dùng các mạng có sẵn (the Web) như một môi trường cho việc truyền thông. Một lí do khác là bởi vì các Web Service dùng XML, một định dạng dữ liệu tự mô tả, mang tính phổ biến, và độc lập nền.

    Tạo các Windows Form
    Mặc dù C# và .NET được thiết kế để phát triển web, nhưng chúng vẫn hỗ trợ mạnh mẽ cho cái gọi là ứng dụng "fat client", các ứng dụng có thể được cài đặt trên một máy người dùng cuối. Hỗ trợ này gọi là Windows Forms.

    Một Windows Form là câu trả lời của .NET cho VB 6 Form. Dùng để thiết kế một giao diên window sinh động, bạn chỉ đơn giản kéo các control từ vào trên Windows Form. Để xác định cách xử của window, bạn viết các thủ tục quản lí sự kiện cho form controls. Một đề án Windows Form được dịch thành một EXE phải được cài đặt trong một môi trường ở máy tính người dùng cuối. Giống như các kiểu đề án .NET khác, đề án Windows Form được hỗ trợ cho cả VB.NET và C#. Chúng ta sẽ nói kĩ về Windows Forms trong chương 7.

    Windows Controls
    Mặc dù Web Forms và Windows Forms được phát triển theo cùng một cách, bạn dùng các loại khác nhau của controls để định vị chúng. Web Forms dùng Web Controls, và Windows Forms dùng Windows Controls.

    Một Windows Control là một ActiveX control. Đằng sau sự thực thi của một Window control, là sự biên dich sang một DLL để có thể cài đặt trên máy khách. Thật vậy, .NET SDK cung cấp một tiện ích dùng để tạo một vỏ bọc cho các ActiveX control, vì thể chúng có thể được đặt trong Windows Forms. Giống trường hợp này các Web Control, Windows Control được tạo thành từ một lớp khác System.Windows.Forms.Control.

    Windows Services
    Một Windows Service là một chương trình được thiết kế để chạy trên nền Windows NT/2000/XP (không hỗ trợ trên Windows 9x). Các dịch vụ này rất hữu ích khi bạn muốn một chương trình có thể chạy liên tục và sẵn sàng đáp ứng các sự kiện mà không cần người dùng phải khởi động. Ví dụ như một World Wide Web Service ở trên các web server luôn lắng nghe các yêu cầu từ trình khách.

    Thật dễ dàng để viết các dịch vụ trong C#. Với thư viện lớp cơ sở .NET Framework sẵn có trong không gian tên System.ServiceProcess namespace chuyên dùng để tổ chức các tác vụ boilerplate kết hợp với các dịch vụ, ngoài ra, Visual Studio .NET cho phép bạn tạo một đề án C# Windows Service, với các mã nguồn cơ bản ban đầu
    Tham Gia Website minigame nào! Game gì cũng có.

    Website: Hidden Content
    Forum: Hidden Content

  8. Có 5 thành viên cảm ơn tymaster cho bài viết này:
    carleton2 (14-09-2008), crazy_hippi_titi (26-08-2008), dst (03-07-2008), thansauth (18-03-2012), __DJ__ (09-03-2009)

  9. #5
    tymaster's Avatar
    tymaster vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jan 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    79/24 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Tiếp Theo Nhá: Phù Phù - Mệt quá
    Vai trò của C# trong .NET Enterprise Architecture
    C# yêu cầu phải có .NET runtime, trong một vài năm tới hầu hết các máy khách đặc biệt là các máy để bàn sẽ được cài .NET. Vào lúc đó, việc cài đặt các ứng dụng C# sẽ giống như việc tái phân phối các thành phần .NET. Sẽ có nhiều ứng dụng C# được cài đặt trong môi trường thương mại. Thật vậy, C# được coi như là một cơ hội nổi bật cho các tổ chức để có thể tạo những ứng dụng mạnh mẽ, những ứng dụn client-server n-lớp.

    Khi kết nối với ADO.NET, C# có khả năng truy cập các cơ sở dữ liệu tổng quát và nhanh chóng như cơ sở dữ liệu SQL Server và Oracle. Các datasets trả lại có thể dễ dàng thao tác thông qua các đối tượng của ADO.NET, và tự động trả về kiểu XML để truyền thông trên một mạng intranet văn phòng.

    Một database schema được tạo ra cho một đề án, C# đủ thông minh để thực thi các lớp đối tượng truy xuất dữ liệu để có thể chèn, cập nhật, xoá truy cập đến một bản dữ liệu khác.

    Để tạo một ứng dụng với C#, bạn nhất định sẽ đề án tạo một thư viên lớp các đối tượng truy xuất dữ liệu và các đối tượng thương mại. Trong khi phát triển, bạn có thể dùng Console projects để kiểm tra các phương thức của các lớp của bạn. Một điều thú vị trong lập trình Console là nó có thể tự động chạy các file BAT để kiểm tra một nhóm các mã lệnh.

    Chú ý rằng, C# và .NET sẽ ảnh hưởng đến cách thức đóng các gói vật lí cho việc dùng lại các lớp. Trong quá khứ, rất nhiều nhà phát triển có nhồi nhét các lớp vào một thành phần vật lí đơn bởi vì việc làm này giúp cho việc phát triển dễ dàng hơn, nếu xảy ra một lỗi nhận dạng phiên bản, bạn sẽ biết nó xảy ra ở đâu. Bởi vì việc phát triển các thành phần .NET thương mại đơn giản là thao tác copy các file vào một số thư mục, bây giờcác nhà phát triển đóng gói các lớp của họ vào nhiều gói logic, các thành phần riêng biệt mà không phải lo lắng về việc xung đột "DLL Hell".

    Cuối cùng không kém phần quan trọng, các trang ASP.NET được viết bằng C# tạo thành các giao diện người dùng thông minh hơn. Bởi vì các trang ASP.NET được biên dịch nên chúng sẽ chạy nhanh hơn. Cũng bởi chúng có thể bẫy lỗi trong VS.NET IDE nên chúng mạnh mẽ hơn. Do chúng hỗ trợ đầy đủ các đặc tính của ngôn ngữ như kết nối sớm, thừa kế, nên các trang ASP.NET được viết trong C# gọn gàng và dễ bảo trì.

    Các nhà phát triển có thể hoài nghi về sự thổi phồng qua mức về công nghệ và ngôn ngữ mới, và miễn cưỡng dùng các nền đơn giản bởi vì chúng đã từng tỏ ra hữu ích. Nếu bạn là một nhà phát triển thương mại cho một bộ phận IT, hoặc nếu ban là nhà cung cấp các dịch vụ ứng dụng thông qua World Wide Web, chúng tôi bảo đảm rằng C# và .NET đưa ra không dưới bốn lợi ích lớn, thậm chí một vài đặc tính mà Web Services và server-side controls không giải quyết được:

    Xung đột giữa các Component hiếm khi xảy ra và việc phát triển trở nên dễ dàng hơn, do các phiên bản khác nhau của cùng một thành phần có thể chạy song song nhau trên cùng một máy mà không gây ra xung đột

    Mã ASP của bạn sẽ không còn hỗn dộn nữa

    Bạn sẽ được thừa kế rất nhiều chức năng tuyệt vởi của các .NET base class

    Đối với các ứng dụng yêu cầu một giao diện Windows Forms, C# sẽ là cách dễ nhất để tạo các ứng dụng loại này

    Windows Forms có một vài điểm xuống hạng trong một vài năm trở lại đây do sự phát triển của WebForms và các ứng dụng Internet-based. Tuy nhiên, nếu số ít các đồng nghiệp của bạn thông thạo JavaScript, ASP, hoặc các công nghệ có liên quan, thì Windows Forms vẫn là một sự lựa chọn để tạo một giao diện dễ dàng và nhanh chóng. Nên nhớ ràng cần tách biệt mã của bạn để cho các logic giao diện người dùng tách biệt với các logic thương mại và các mã truy cập dữ liệu. Làm như thế sẽ cho phép bạn di trú ứng dụng của bạn vào trình duyệt tại một vài thời điểm trong tương lai nếu cần thiết. Dù vậy, Windows Forms vẫn sẽ còn lấn át user interface trong các ứng dụng gia đình và các sản phẩm thương mại nhỏ trong một thời gian dài nữa.
    Tham Gia Website minigame nào! Game gì cũng có.

    Website: Hidden Content
    Forum: Hidden Content

  10. Có 6 thành viên cảm ơn tymaster cho bài viết này:
    carleton2 (14-09-2008), crazy_hippi_titi (26-08-2008), dst (03-07-2008), hungctk33 (13-02-2012), thansauth (18-03-2012), __DJ__ (09-03-2009)

  11. #6
    tymaster's Avatar
    tymaster vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jan 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    79/24 bài viết
    VR power
    0

    Thumbs down

    Tiếp Theo Nhá: Phù Phù - Mệt quá
    Vai trò của C# trong .NET Enterprise Architecture
    C# yêu cầu phải có .NET runtime, trong một vài năm tới hầu hết các máy khách đặc biệt là các máy để bàn sẽ được cài .NET. Vào lúc đó, việc cài đặt các ứng dụng C# sẽ giống như việc tái phân phối các thành phần .NET. Sẽ có nhiều ứng dụng C# được cài đặt trong môi trường thương mại. Thật vậy, C# được coi như là một cơ hội nổi bật cho các tổ chức để có thể tạo những ứng dụng mạnh mẽ, những ứng dụn client-server n-lớp.

    Khi kết nối với ADO.NET, C# có khả năng truy cập các cơ sở dữ liệu tổng quát và nhanh chóng như cơ sở dữ liệu SQL Server và Oracle. Các datasets trả lại có thể dễ dàng thao tác thông qua các đối tượng của ADO.NET, và tự động trả về kiểu XML để truyền thông trên một mạng intranet văn phòng.

    Một database schema được tạo ra cho một đề án, C# đủ thông minh để thực thi các lớp đối tượng truy xuất dữ liệu để có thể chèn, cập nhật, xoá truy cập đến một bản dữ liệu khác.

    Để tạo một ứng dụng với C#, bạn nhất định sẽ đề án tạo một thư viên lớp các đối tượng truy xuất dữ liệu và các đối tượng thương mại. Trong khi phát triển, bạn có thể dùng Console projects để kiểm tra các phương thức của các lớp của bạn. Một điều thú vị trong lập trình Console là nó có thể tự động chạy các file BAT để kiểm tra một nhóm các mã lệnh.

    Chú ý rằng, C# và .NET sẽ ảnh hưởng đến cách thức đóng các gói vật lí cho việc dùng lại các lớp. Trong quá khứ, rất nhiều nhà phát triển có nhồi nhét các lớp vào một thành phần vật lí đơn bởi vì việc làm này giúp cho việc phát triển dễ dàng hơn, nếu xảy ra một lỗi nhận dạng phiên bản, bạn sẽ biết nó xảy ra ở đâu. Bởi vì việc phát triển các thành phần .NET thương mại đơn giản là thao tác copy các file vào một số thư mục, bây giờcác nhà phát triển đóng gói các lớp của họ vào nhiều gói logic, các thành phần riêng biệt mà không phải lo lắng về việc xung đột "DLL Hell".

    Cuối cùng không kém phần quan trọng, các trang ASP.NET được viết bằng C# tạo thành các giao diện người dùng thông minh hơn. Bởi vì các trang ASP.NET được biên dịch nên chúng sẽ chạy nhanh hơn. Cũng bởi chúng có thể bẫy lỗi trong VS.NET IDE nên chúng mạnh mẽ hơn. Do chúng hỗ trợ đầy đủ các đặc tính của ngôn ngữ như kết nối sớm, thừa kế, nên các trang ASP.NET được viết trong C# gọn gàng và dễ bảo trì.

    Các nhà phát triển có thể hoài nghi về sự thổi phồng qua mức về công nghệ và ngôn ngữ mới, và miễn cưỡng dùng các nền đơn giản bởi vì chúng đã từng tỏ ra hữu ích. Nếu bạn là một nhà phát triển thương mại cho một bộ phận IT, hoặc nếu ban là nhà cung cấp các dịch vụ ứng dụng thông qua World Wide Web, chúng tôi bảo đảm rằng C# và .NET đưa ra không dưới bốn lợi ích lớn, thậm chí một vài đặc tính mà Web Services và server-side controls không giải quyết được:

    Xung đột giữa các Component hiếm khi xảy ra và việc phát triển trở nên dễ dàng hơn, do các phiên bản khác nhau của cùng một thành phần có thể chạy song song nhau trên cùng một máy mà không gây ra xung đột

    Mã ASP của bạn sẽ không còn hỗn dộn nữa

    Bạn sẽ được thừa kế rất nhiều chức năng tuyệt vởi của các .NET base class

    Đối với các ứng dụng yêu cầu một giao diện Windows Forms, C# sẽ là cách dễ nhất để tạo các ứng dụng loại này

    Windows Forms có một vài điểm xuống hạng trong một vài năm trở lại đây do sự phát triển của WebForms và các ứng dụng Internet-based. Tuy nhiên, nếu số ít các đồng nghiệp của bạn thông thạo JavaScript, ASP, hoặc các công nghệ có liên quan, thì Windows Forms vẫn là một sự lựa chọn để tạo một giao diện dễ dàng và nhanh chóng. Nên nhớ ràng cần tách biệt mã của bạn để cho các logic giao diện người dùng tách biệt với các logic thương mại và các mã truy cập dữ liệu. Làm như thế sẽ cho phép bạn di trú ứng dụng của bạn vào trình duyệt tại một vài thời điểm trong tương lai nếu cần thiết. Dù vậy, Windows Forms vẫn sẽ còn lấn át user interface trong các ứng dụng gia đình và các sản phẩm thương mại nhỏ trong một thời gian dài nữa.

    Túm lại
    Chúng ta đã khảo sát nhiều vấn đề trong chương này, chúng ta sẽ tóm lại các vấn đề quan trọng trong .NET Framework và mối quan hệ của nó với C#. Chúng tôi đã trình bày cách mà tất cả các ngôn ngữ hướng .NET được biên dịch thành Intermediate Language trước khi được biên dịch và thực thi bởi Common Language Runtime. Chúng tôi cũng đã trình bày vai trò của các đặc tính sau trong .NET trong quá trình biên dịch và thực thi:

    Các Assembly và thư viện lớp cơ sở của .NET

    Các thành phần COM

    Quá trình biên dịch JIT

    Các Application domain

    Garbage Collection
    Tui cũng đã trình bày những đặc trưng của IL, cụ thể là định nghĩa kiểu mạnh và hướng đối tượng. Chúng tôi đã chú thích các đặc tính này ảnh hưởng đến các các ngôn ngữ hướng .NET khác, bao gồm C#. Tui cũng đã chú thich cách mà định nghĩ kiểu mạnh có thể hỗ trợ tương hoạt ngôn ngữ chéo, cũng như các dịch vụ CLR chẳng hạn như trình thu gom rác và bảo mật.
    Tham Gia Website minigame nào! Game gì cũng có.

    Website: Hidden Content
    Forum: Hidden Content

  12. Có 6 thành viên cảm ơn tymaster cho bài viết này:
    carleton2 (14-09-2008), crazy_hippi_titi (26-08-2008), dst (03-07-2008), hungctk33 (13-02-2012), thansauth (18-03-2012), __DJ__ (09-03-2009)

  13. #7
    hoanghoang3009's Avatar
    hoanghoang3009 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Vàng Đôi
    Tham gia
    May 2008
    Đến từ
    Việt Nam yêu dấu !!!
    Bài
    1.098
    Cảm ơn
    428
    Điểm
    1.094/354 bài viết
    VR power
    0

    Default

    dài thế này đọc ngại lắm các anh ơi

  14. Có 2 thành viên cảm ơn hoanghoang3009 cho bài viết này:
    anhaivip (01-10-2013), maiyeunt (10-12-2008)

  15. #8
    tymaster's Avatar
    tymaster vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jan 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    79/24 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Trích hoanghoang3009 View Post
    dài thế này đọc ngại lắm các anh ơi
    Các bạn chê dài thì thôi ko post nữa, rõ chán,
    Tham Gia Website minigame nào! Game gì cũng có.

    Website: Hidden Content
    Forum: Hidden Content

  16. Có 3 thành viên cảm ơn tymaster cho bài viết này:
    carleton2 (14-09-2008), crazy_hippi_titi (26-08-2008), dst (03-07-2008)

  17. #9
    tymaster's Avatar
    tymaster vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jan 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    79/24 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Trước khi bắt đầu !


    Như chúng tôi đã đề cập C# là ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng do đó chúng ta phải nắm vững thế nào là class, objects, interface và inheritance. Nếu trước đây bạn đã lập trình C++ hay Java thì bạn nên nắm vững nền của lập trình hướng đối tượng. (OOP)

    Nếu bạn chưa học qua lập trình hướng đối tượng thì cuốn sách này sẽ giúp bạn học nó, phụ lục A có cung cấp cho bạn những hướng dẫn trong lập trình OOP.

    Nếu bạn là người đã có kinh nghiệm trong VB 6, C++, hoặc Java bạn nên lưu ý sự so sánh sự khác nhau của chúng tôi về C# và C++, Java, VB 6 chúng ta sẽ có cái nhìn rõ hơn trong việc học C#.

    Bạn có thể xem thêm tài liệu khi download từ web site của Wrox Press () bạn sẽ được hướng dẫn chi tiết hơn. Chúc bạn thành công .

    Chương trình đầu tiên !




    Chúng ta sẽ bắt đầu theo cách truyền thống là tạo một chương trình viết bằng C# rồi cho biên dịch và chạy thử nghiệm. Việc phân tích chương trình con này sẽ dẫn dắt bạn vào những chức năng chủ chốt của ngôn ngữ C#.

    Bạn có thể biên dịch chương trình này bằng cách khỏ vào chương trình soạn thảo văn bản đơn giản, Notepad chẳng hạn, rồi cho cất trữ dưới dạng tập tin với tên mở rộng là .cs (tắt chữ C sharp), rồi cho chạy trình biên dịch C# command_line (scs.exe) ví dụ tập tin First.cs :

    using System;

    namespace Wrox.ProCSharp.Basics
    {
    class MyFirstCSharpClass
    {
    static void Main()
    {
    Console.WriteLine("This isn't at all like Java!");
    Console.ReadLine();
    return;

    }
    }
    }
    Một chương trình khả thi mang tên First.exe sẽ được tạo ra, và bạn có thể cho chạy chương trình này từ command line giống như với DOS hoặc từ Windows Explorer như bất cứ chương trình khả thi nào.Chạy chương trình như sau :

    csc First.cs
    Microsoft (R) Visual C# .NET Compiler version 7.00.9466
    for Microsoft (R) .NET Framework version 1.0.3705
    Copyright (C) Microsoft Corporation 2001. All rights reserved.


    First
    This isn't at all like Java!
    Nhưng trước tiên bạn nên biết trên C# cũng như trên các ngôn ngữ C khác chương trình được cấu thành bởi câu lệnh (statement ) và câu lệnh C# được kết thúc bởi một dấu chấm phẩy (.Nhiều câu lệnh có thể gộp thành một khối được bao ở hai đầu bởi cặp dấu ngoặc nghéo {}, câu lệnh nếu dài có thể tiếp tục xuống hàng dưới không cần đến một ký tự báo cho biết câu lệnh tiếp tục hàng dưới.
    Tham Gia Website minigame nào! Game gì cũng có.

    Website: Hidden Content
    Forum: Hidden Content

  18. Có 4 thành viên cảm ơn tymaster cho bài viết này:
    crazy_hippi_titi (26-08-2008), dejacodon (08-08-2013), hungctk33 (13-02-2012), __DJ__ (09-03-2009)

  19. #10
    tymaster's Avatar
    tymaster vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jan 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    79/24 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Biến và Hằng

    Một biến dùng để lưu trữ giá trị mang một kiểu dữ liệu nào đó.

    Cú pháp C# sau đây để khai báo một biến :



    [ modifier ] datatype identifer ;

    Với modifier là một trong những từ khoá : public, private, protected, . . . còn datatype là kiểu dữ liệu (int , long , float. . . ) và identifier là tên biến.

    Thí dụ dưới đây một biến mang tên i kiểu số nguyên int và có thể được truy cập bởi bất cứ hàm nào.

    thí dụ :

    public int i ;
    Ta có thể gán cho biến một giá trị bằng toán tử "=".

    i = 10 ;
    Ta cũng có thể khai báo biến và khởi tạo cho biến một giá trị như sau :

    int i = 10 ;
    Nếu ta khai báo nhiều biến có cùng kiểu dữ liệu sẽ có dạng như sau:

    int x = 10; y = 20;



    int x = 10;

    bool y = true ; // khai báo trên đúng



    int x = 10 , bool = true // khai báo trên có lỗi
    Phạm vi hoạt động của biến (Variable Scope).


    Phạm vi hoạt động của biến là vùng đoạn mã mà từ đấy biến có thể được truy xuất.

    Trong một phạm vi hoạt động (scope), không thể có hai biến cùng mang một tên trùng nhau.

    Thí dụ ta không thể làm như sau :

    i
    nt x = 20;
    // một số câu lệnh ở đây
    int x = 30;
    Xét ví dụ sau :
    using System;
    namespace Wrox.ProCSharp.Basics
    {
    public class ScopeTest
    {
    public static int Main()
    {
    for (int i = 0; i < 10; i++)
    {
    Console.WriteLine(i);
    } // biến i ra khỏi phạm vi
    // Chúng ta có thể khai báo thêm biến i ở đây
    for (int i = 9; i >= 0; i--)
    {
    Console.WriteLine(i);
    } // biến i ra khỏi phạm vi ở đây
    return 0;
    }
    }
    }
    Đoạn mã trên đơn giản in ra các số từ 0 đến 9, rồi lộn ngược lại từ 9 đến 0, sử dụng vòng lặp for.Chúng ta sẽ đề cập loại vòng lặp này. Điều quan trọng là ở đây chúng ta khai báo biến i hai lần trong cùng một hàm ScopeTest.Chúng ta có thể làm được điều này vì i được khai báo trong vòng lặp nghĩa là biến i cục bộ đối với vòng lặp.Một khi vòng lặp hoàn thành nhiệm vụ thì biến thoát khỏi phạm vi, và không thể truy xuất được nữa.

    Chúng ta xem tiếp một ví dụ khác :

    public static int Main()
    {
    int j = 20;
    for (int i = 0; i < 10; i++)
    {
    int j = 30; // không thể thực thi - j vẫn còn trong phạm vi
    Console.WriteLine(j + i);
    }
    return 0;
    }
    Đoạn mã trên sẽ được biên dịch mặc dù có hai biến đặc tên j trong phạm vi không có phương thức hàm main( ) biến j được định nghĩa ở lớp mức và không đi ra ngoài đến khi lớp bị huỷ ( trong trường hợp này chương trình kết thúc khi hàm main( ) kết thúc), biến j được định nghĩa trong hàm main( ) phương thức ẩn trong lớp mức với biến cùng tên j nên khi chạy chương trình sẽ hiện giá trị 30.



    Ta xem đoạn thí dụ sau :

    using System;

    namespace Wrox.ProCSharp.Basics
    {
    class ScopeTest2
    {
    static int j = 20;

    public static void Main()
    {
    int j = 30;
    Console.WriteLine(j);
    return;
    }
    }
    }
    Chương trình vẫn hoạt động và cho kết quả là 30.


    HẰNG:
    Một hằng (constant) là một biến nhưng trị không thể thay đổi được suốt thời gian thi hành chương trình. Đôi lúc ta cũng cần có những giá trị bao giờ cũng bất biến.

    Thí dụ

    const int a = 100; // giá trị này không thể bị thay đổi

    Trong định nghĩa lớp mà ta sẽ xem sau, người ta thường định nghĩa những mục tin (field) được gọi là read-only variable, nghĩa là những biến chỉ được đọc mà thôi



    Hằng có những đặc điểm sau :

    Hằng bắt buộc phải được gán giá trị lúc khai báo.Một khi đã được khởi gán thì không thể viết đè chồng lên.

    Trị của hằng phải có thể được tính toán vào lúc biên dịch, Do đó không thể gán một hằng từ một trị của một biến. Nếu muốn làm thế thì phải sử dụng đến một read-only field.

    Hằng bao giờ cũng static, tuy nhiên ta không thể đưa từ khoá static vào khi khai báo hằng.

    Có ba thuận lợi khi sử dụng hằng trong chương trình của bạn :

    Hằng làm cho chương trình đọc dễ dàng hơn, bằng cách thay thế những con số vô cảm bởi những tên mang đầy ý nghĩa hơn.

    Hằng làm cho dễ sữa chương trình hơn.

    Hằng làm cho việc tránh lỗi dễ dàng hơn, nếu bạn gán một trị khác cho một hằng đâu đó trong chương trình sau khi bạn đã gán giá trị cho hằng, thì trình biên dịch sẽ thông báo sai lầm.
    Tham Gia Website minigame nào! Game gì cũng có.

    Website: Hidden Content
    Forum: Hidden Content

  20. Có 3 thành viên cảm ơn tymaster cho bài viết này:
    crazy_hippi_titi (26-08-2008), hungctk33 (13-02-2012), __DJ__ (09-03-2009)

  21. #11
    tymaster's Avatar
    tymaster vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jan 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    79/24 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Dữ liệu kiểu trị và kiểu qui chiếu
    C# là một ngôn ngữ được kiểm soát chặt chẻ về mặt kiểu dữ liệu, ngoài ra C# còn chia các kiểu dữ liệu thành hai loại khác nhau: kiểu trị (value type) và kiểu qui chiếu (reference type). Nghĩa là trên một chương trình C# dữ liệu được lưu trữ một hoặc hai nơi tuỳ theo đặc thù của kiểu dữ liệu.

    Chỗ thứ nhất là stack một vùng ký ức dành lưu trữ dữ liệu chiều dài cố định, chẳng hạn int chiếm dụng 4 bytes . Mỗi chương trình khi đang thi hành đều được cấp phát riêng một stack riêng biệt mà các chương trình khác không được mó tới. Khi một hàm được gọi hàm thi hành thì tất cả các biến cục bộ của hàm được ấn vào stack và khi hàm hoàn thành công tác thì những biến cục bộ của hàm đều bị tống ra. Đây là cách thu hồi khi hàm hết hoạt động.

    Chỗ thứ hai là heap, một vùng ký ức dùng lưu trữ dữ liệu có bề dày thay đổi và khá đồ sộ, string chẳng hạn, hoặc dữ liệu có một cuộc sống dài hơn phương thức của một đối tượng chẳng hạn, Thí dụ khi phương thức thể hiện (instantiate) một đối tượng , đối tượng đuợc lưu trữ trên heap, và nó không bị tống ra khi hàm hoàn thành giống như stack, mà ở nguyên tại chỗ và có thể trao cho các phương thức khác thông qua một qui chiếu. Trên C# heap này được gọi là managed heap, khôn lanh vì heap này có một bộ phận gọi là garbage collector (GC,dịch vụ hốt rác ) chuyên lo thu hồi ký ức lâu ngày không dùng đến (nghĩa là không quy chiếu đến).

    C# cũng hỗ trợ kiểu con trỏ (pointer type) giống như C++ nhưng ít khi dùng đến và chỉ dùng khi làm việc với đoạn mã unmanaged. Đoạn mã unmanaged là đoạn mã đuợc tạo ra ngoài sàn diễn .NET, chẳng hạn những đối tượng COM.

    Kiểu giá trị được định nghĩa trước (Predefined Value Types)
    Kiểu dữ liệu bẩm sinh (The built-in value types) trình bày ban đầu như integer và floating-point numbers, character, và Boolean types.



    Các kiểu Integer:



    C# hỗ trợ 8 kiểu dữ liệu số nguyên sau:



    Name
    CTS Type
    Description
    Range (min:max)

    sbyte System.SByte
    8-bit signed integer
    -128:127 (-27:27-1)

    short System.Int16
    16-bit signed integer
    -32,768:32,767 (-215:215-1)

    int System.Int32
    32-bit signed integer
    -2,147,483,648:2,147,483,647 (-231:231-1)

    long System.Int64
    64-bit signed integer
    -9,223,372,036,854,775,808: 9,223,372,036,854,775,807 (-263:263-1)

    byte System.Byte
    8-bit signed integer
    0:255 (0:28-1)

    ushort System.UInt16 16-bit signed integer
    0:65,535 (0:216-1)

    uint System.UInt32 32-bit signed integer
    0:4,294,967,295 (0:232-1)

    ulong System.UInt64 64-bit signed integer
    0:18,446,744,073,709,551,615(0:264-1)

    Thí dụ :

    long x = 0x12ab;// ghi theo hexa
    uint ui = 1234U;
    long l = 1234L;
    ulong ul = 1234UL;
    Kiểu dữ liệu số dấu chấm di động (Floating Point Types)



    Name CTS Type Description Significant Figures
    Range (approximate)
    Float System.Single 32-bit single-precision floating- point
    7 ±1.5 × 10-45 to ±3.4 × 1038

    Double System.Double 64-bit double-precision floating- point
    15/16 ±5.0 × 10-324 to ±1.7 × 10308

    Thí dụ:

    float f = 12.3F;

    Kiểu dữ liệu số thập phân (Decimal Type):



    Name CTS Type Description Significant Figures
    Range (approximate)
    decimal System.Decimal 128-bit high precision decimal notation
    28 ±1.0 × 10-28 to ±7.9 × 1028


    Thí dụ :

    decimal d = 12.30M ; //có thể viết decimal d = 12.30m;

    Kiểu Boolean :



    Name CTS Type Value
    Bool System.Boolean
    true or false


    Kiểu Character Type:

    Name CTS Type Value
    char System.Char
    Represents a single 16-bit (Unicode) character




    Kiểu tham khảo tiền định nghĩa:

    C# hỗ trợ hai kiểu dữ liệu được định nghĩa trước:

    Name
    CTS Type
    Description

    object
    System.Object
    The root type, from which all other types in the CTS derive (including value types)

    string
    System.String
    Unicode character string


    Các ký tự escape thông dụng:

    Escape Sequence
    Character

    \'
    Single quote

    \"
    Double quote

    \\
    Backslash

    \0
    Null

    \a
    Alert

    \b
    Backspace

    \f
    Form feed

    \n
    Newline

    \r
    Carriage return

    \t
    Tab character

    \v
    Vertical tab

    Các kiểu chuỗi :

    Đối tượng kiểu string thường chứa một chuỗi ký tự.Khi khai báo một biến chuỗi sử dụng từ khoá string giống như sau:

    string myString;

    Thường thì phải khởi gán một biến chuỗi sử dụng đến một kiểu string :

    string myString = "Xin chao" ;

    string str1 = "Hello ";
    string str2 = "World";
    string str3 = str1 + str2; //

    Thí dụ sau:
    using System;

    class StringExample
    {
    public static int Main()
    {
    string s1 = "a string";
    string s2 = s1;
    Console.WriteLine("s1 is " + s1);
    Console.WriteLine("s2 is " + s2);
    s1 = "another string";
    Console.WriteLine("s1 is now " + s1);
    Console.WriteLine("s2 is now " + s2);
    return 0;
    }
    }
    kết quả như sau :

    s1 is a string
    s2 is a string
    s1 is now another string
    s2 is now a string
    Chuổi được khai báo là một đường dẫn:
    string filepath = "C:\\ProCSharp\\First.cs";
    Tham Gia Website minigame nào! Game gì cũng có.

    Website: Hidden Content
    Forum: Hidden Content

  22. Có 4 thành viên cảm ơn tymaster cho bài viết này:
    carleton2 (14-09-2008), crazy_hippi_titi (26-08-2008), hungctk33 (13-02-2012), __DJ__ (09-03-2009)

  23. #12
    nguyenhuutrong's Avatar
    nguyenhuutrong vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Gỗ
    Tham gia
    Sep 2007
    Bài
    10
    Cảm ơn
    21
    Điểm
    7/2 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Bạn ui có thể tạo thành 1 quyển Ebook cho khoa học tí hen !
    Nhìn lu xà bu !

  24. #13
    tymaster's Avatar
    tymaster vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jan 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    79/24 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Trích nguyenhuutrong View Post
    Bạn ui có thể tạo thành 1 quyển Ebook cho khoa học tí hen !
    Nhìn lu xà bu !
    Cũng có lý nhưng hiện nay cũng không có thời gian nhiều để đầu tư làm ebook, mình rãnh lúc nào thì góp chút kiến thức cho các bạn thôi.

    Tạm thời bây h post thế này mai mốt có thời gian thì mình sẽ làm ebook cho các bạn.
    Chờ cuốn Lập trình C# v1.0 nhé. Hihi

    Cảm ơn các bạn quan tâm
    Tham Gia Website minigame nào! Game gì cũng có.

    Website: Hidden Content
    Forum: Hidden Content

  25. Có 2 thành viên cảm ơn tymaster cho bài viết này:
    carleton2 (14-09-2008), crazy_hippi_titi (26-08-2008)

  26. #14
    otarachi's Avatar
    otarachi vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Rìu Bạc
    Tham gia
    Aug 2007
    Đến từ
    Application Technology
    Bài
    322
    Cảm ơn
    4
    Điểm
    218/74 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Bạn copy từ quyển kỹ thuật lập trình C Sharp 2.0 ra thì giới thiệu quyển đó đi, post thé này vừa khó đọc vừa khó tìm đề mục
    Hidden Content Phụ nữ thích nhiều thứ ở 1 người đàn ôngHidden Content
    Đàn ông thích 1 thứ ở nhiều người phụ nữ

  27. #15
    tymaster's Avatar
    tymaster vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Búa Đá
    Tham gia
    Jan 2008
    Bài
    66
    Cảm ơn
    1
    Điểm
    79/24 bài viết
    VR power
    0

    Default

    Trích otarachi View Post
    Bạn copy từ quyển kỹ thuật lập trình C Sharp 2.0 ra thì giới thiệu quyển đó đi, post thé này vừa khó đọc vừa khó tìm đề mục
    Cái này mình ko lấy từ đâu cả, kiến thức học từ các bạn thôi, mình chỉ tổng hợp từ các bạn ấy mà post lên thôi, mình cũng chẳng biết nó là
    kỹ thuật lập trình C Sharp 2.0
    gì cả.
    Tham Gia Website minigame nào! Game gì cũng có.

    Website: Hidden Content
    Forum: Hidden Content

  28. Có 3 thành viên cảm ơn tymaster cho bài viết này:
    crazy_hippi_titi (26-08-2008), hungctk33 (13-02-2012), titlethanhtho (10-05-2011)

 

 
Trang 1/3 1 2 3 cuốicuối

Quyền sử dụng

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể tự sửa bài viết của mình
  •