View Single Post
Old 17-04-2008, 16:48   #11
Lãng khách
Rìu Bạc Đôi
 
Lãng khách's Avatar
 
Tham gia: Jan 2008
Bài: 615
VZD: 12.676
Điểm: 489/173 bài viết
Send a message via Yahoo to Lãng khách
Default

CaSIR Lãng khách gửi lên là v2.2 rồi mà?

Nói tóm tắt thì Chế độ an toàn Safe Mode là chế độ mà hệ điều hành Windows (2000, 2003, XP) chỉ cho phép khởi động các dịch vụ TỐI THIỂU.
Mỗi phần cứng của máy có một tệp điều khiển nó gọi là Driver. Nếu phần cứng và tệp Driver của bạn không đồng bộ (Ví dụ như Card màn hình của bạn là S3, nhưng Driver của bạn lại là Strident chẳng hạn) Windows không thể điều khiển đúng phần cứng, nó sẽ chạy ở chế độ Safe mode để bạn đổi lại driver.

Mặt khác, khi cài đặt, mỗi thiết bị có một mã số ngắt để hệ điều hành làm việc, khi tranh chấp tài nguyên, một ngắt có 2 thiết bị, Windows không thể hiểu được của cái nào, nó ... ngắt cả 2 thiết bị ra khỏi danh mục điều khiển, bạn phải vào Control Panel để đổi lại ngắt.

Khi đó hầu hết các ứng dụng trên máy tính của bạn sẽ không được load.
Ví dụ: Các chương trình bạn cài vào và cho phép chạy tự động mỗi khi khởi động máy như: Vietkey, KAS ...
Dĩ nhiên trong đó có cả các Virus (phần lớn). Khi đã khởi động vào Safe Mode bạn có thể tín hành diệt bằng chương trình có thể chạy trong chế độ này như BKAV chẳng hạn.
...
Note: Hiện giờ có cả Virus có thể tự động kích hoạt trong Safe Mode khi khởi động.

Khi nào thì sử dụng?
Nếu bạn không thể khởi động hệ thống bằng cách sử dụng Last Known Good Configuration, Windows XP Professional, Windows 2000 và Windows Server 2003 cung cấp kiểu an toàn (safe mode), một tùy chọn khởi động mà vô hiệu hóa những chương trình khởi động và những dịch vụ không cần thiết để tạo ra một môi trường hữu ích cho dò lỗi và chuẩn đoán vấn đề. Trong safe mode, Windows XP/2000/2003 khởi động một thiết lập tối thiểu của driver mà hệ điều hành cấn tới chức năng. Sự hỗ trợ cho những thiết bị như thiết bị audio, đa số các thiết bị USB, và thiết bị IEEE 1394 được vô hiệu hóa để giảm bớt những biến mà bạn cần để tính toán khi chuẩn đoán nguyên nhân những vấn đề khởi động, thông báo Stop, hoặc hệ thống bất ổn định.
Những driver và dịch vụ hệ thống quan trọng cho phép trong kiểu safe mode bao gồm:
· Drivers cho serial hoặc PS/2 thiết bị chuột, bàn phím chuẩn, những đĩa cứng, ổ CD-ROM, và thiết bị VGA chuẩn. Vi chương trình hệ thống của bạn phải hỗ trợ chuột (USB) và bàn phím USB trong thứ tự cho bạn sử dụng những thiết bị đưa dữ liệu vào trong safe mode.
· Những dịch vụ hệ thống cho Event Log, Plug and Play, remote procedure calls (RPCs), và Logical Disk Manager.
Việc cho phép chỉ những thành phần được cần cho chức năngn hoạt động cơ bản cho phép hệ điều hành khởi động trong những tình trạng sau đây:
· Máy tính thích hợp với ngừng đáp ứng: bạn có thể khởi động lại hệ điều hành trong safe mode và sử dụng những công cụ mô tả trong phụ lục này để chuẩn đoán và giải quyết những vấn đề.
· Máy tính khởi động với một màn hình video để trống hoặc bóp méo. Bạn có thể khởi động trong chế độ safe mode và sau đó sử dụng Control Panel để lựa chọn bộ thích ứng video (video adapter) được thiết đặt tương thích với màn hình của bạn. Những thiết đặt mới thực hiện khi bạn khởi động lại máy tính.
· Máy tình không khởi động bình thường sau khi bạn cài đặt phần cứng hoặc phần mềm mới: nếu phần cứng hoặc phần mềm mới đây được cài đặt cản trở bạn khởi động Windows XP Professional trong chế độ bình thường, bạn có thể sử dụng safe mode để gở phần mềm hoặc xóa những thiết bị driver.
Safe mode giúp bạn chuẩn đoán những vấn đề. Nếu một triệu chứng không lại xuất hiện khi bạn khởi động trong safe mode, bạn có thể loại trừ những thiết đặt mặc định và driver thiết bị như có thể gây ra. Nếu một thiết bị mới được thêm hoặc thay đổi driver đang gây ra những vấn đề, bạn có thể sử chế độ safe mode để xóa thiết bị hoặc đảo ngưỡc sự thay đổi.
Có những tình huống nơi safe mode sẽ không có thể giúp bạn, chẳng hạn nhu khi tập tin hệ thống Windows mà được yêu cầu khởi động hệ thống bị hư hoặc bị hỏng. Trong trường hợp này, Recovery Console có thể giúp đỡ bạn.
Chế độ Safe Mode cũng bỏ qua chương trình khởi động. bỏ qua chương trình khởi động giảm bớt sự phức tạp hệ thống và cho phép bạn nhìn thấy liệu có phải một chương trình khởi động là nguồn gốc của vấn đề.
Trong safe mode, hệ điều hành không chạy những chương trình khơi động trên nền mạng. Để cho phép mạng đăng nhập tập lệnh (logon scripts) trong safe mode, chọn Safe Mode with Networking trên menu Windows Advanced Options.
Để khởi động máy trính trong chế độ safe mode:
1. Lấy tất cả đĩa mềm và đĩa CD-Rom ra khỏi máy tính, và sau đó khởi động lại máy.
2. Khi được nhắc, nhấn F8. Nếu Windows XP Professional khởi động mà không có hiển thị “Please select the operating system to start menu”, khởi động lại máy. Nhấn F8 sai khi vi chương trình (firmware) bổ sung dữ liệu hoàn thành, nhưng trước lúc Windows hiển thị hình ảnh đồ họa thích hợp lúc khởi động.
3. Từ menu Windows Advanced Options, hãy chọn một danh dách được liệt kê bên dưới :
Safe Mode: Khởi động hệ điều hành với chỉ các dirver và dich vụ cần thiết để boot Windows XP/2000/2003. Những chương trình khởi động đặt biệt người dùng không chạy. Bạn hãy dùng phiên bản Safe Mode này để sửa chữa những trục trặc có liên quan đến các dịch vụ mạng đang ngăn không cho hệ thống làm việc bình thường.
Safe Mode with Networking: bao gồm những dịch vụ và các dirver cần thiết để mạng kết nối. Safe mode with networking cho phép bạn logon vào mang, logon scripts, security, và thiết đặt Group Policy. Những chương trình dịch vụ và khởi động không thiết yếu không có liên quan đến mạng không chạy. Khi bạn boot máy vào chế độ Directory Servies Restore Mode, đó là nó đang boot vào chế độ Safe Mode with Networking.
Safe Mode with Command Prompt: Khởi động máy tình trong chế độ an toàn, nhưng hiển thị những dấu nhắc lệnh hơn là giao diện Windows GUI.
Enable Boot Logging: Tạo file log (Ntbtlog.txt) trong thư mục systemroot, mà chứa dựng những tên tập tin và tình trạng của tất cả driver nạp vào bộ nhớ. Systemroot là một biến môi trường mà có thể thay đổi từ một hệ thống đang chạy Windows XP/2000/2003 đến hệ thống khác.
Enable VGA Mode: Khởi động máy tính trong chề độ VGA mode bằng cách sử dụng driver video hiện tại. Tùy chọn này giúp bạn khôi phục từ việc bạn đã cài đặt một driver hiển thị tồi tệ và bây giờ cần sửa sai vấn đề.
Last Known Good Configuration: Khôi phục cấu hình registry và driver trong lần máy khởi động thành công gần đây nhất.
Debugging Mode: Khởi động Windows XP/2000/2003 trong debugging mode, cho phép bạn sử dụng một trình gỡ rối để dò lỗi và phân tích hệ thống.
Start Windows Normally: Khởi động Windows XP/2000/2003 trong chế độ bình thường.
Reboot: Khởi động lại máy.
Lãng khách vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn